Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Năm 1994 VC anh Trần TT được UBND xã chia đất cho để làm nhà ở và họ đã làm nhà để ở. Đến năm 2011 có bán cho ông bà ĐT (có giấy chuyển nhượng đươc UBND và cán bộ địa chính thời kỳ đó xác nhận là 174 m2-và có trích lục bản đồ năm 1997 là 174m2 << có giấy trích lục bản đồ kèm theo) và GĐ bà ĐT đã làm nhà 2 tầng và sử dụng ổn định từ đó đến nay (không có tranh chấp và hàng năm nộp tiền sử dụng đất đầy đủ cho HTX . Anh Phạm VT được nhận thừa kế (có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ).

Ngày 5/8/2020 tôi là Nguyễn TN (được sự ủy quyền của anh T <<có hợp đồng ủy quyền ngày 3/8>> mang hồ sơ đến UBND thị trấn L làm thủ tục xin cấp GCNQSDD và được UBND cho niêm yiết công khai từ ngày 7/8 đến ngày 22/8/2020 (có giấy tờ kèm theo do chủ tịch UBND thị trấn ký).

Tuy nhiên đến hết ngày công khai tôi lên để làm thủ tục tiếp theo thì được cán bộ địa chính hướng dẫn làm <<có giấy tờ hướng dẫn kèm theo >> và kết thúc công khai không ký cho tôi (mặc dù không có đơn tranh chấp khiếu nại của ai)

Tôi không đồng ý với với nộp dung hướng dẫn của cán bộ địa chính và làm đơn đề nghị trả lời bằng văn bản, ngày 17/9/2020 UBTT L trả lời tôi bằng văn bản số 294 (có văn bản kèm theo) và có viết đơn khiếu nại lên huyện (có đơn kèm theo) và được trả lời bằn văn bản kèm theo)

nhờ A/C tư vấn giúp

Ngày: 10/9/2020 Bà Nguyễn Thị N gửi đơn đề nghị đến UBND thị trấn L.

Ngày 17/9/2020 UBND thị trấn L trả lời đơn kiến nghị bà N

>> Xem thêm:  Hợp đồng chuyển nhượng đất đai thế nào là hợp pháp ?

TRẢ LỜI:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Luật khiếu nại 2011;

Luật đất đai 2013;

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai;

Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Để làm rõ yêu cầu của quý khách, trong trường hợp này Luật Minh Khuê sẽ phân tích tính pháp lý về nội dung của hai văn bản trả lời đơn của cơ quan có thẩm quyền.

1. Văn bản số 1xx/BTCD của Ban tiếp dân - Văn phòng HĐND-UBND huyện ABC;

Ngày 05/10/2020 quý khách có gửi đơn khiếu nại công văn trả lời số 2xx/TL-UBND ngày 17/9/2020 của UBND thị trấn L đến Chủ tịch UBND huyện ABC. Ngày 14/10/2020 Ban tiếp dân, văn phòng HĐND - UBND huyện ABC có văn bản số 108/BTCD. Văn bản này hướng dẫn công dân (quý khách) nếu còn khiếu nại thì gửi đơn đến Chủ tịch UBND thị trấn L giải quyết. Vì văn bản số 2xx/TL-UBND do chủ tịch UBND thị trấn L ban hành.

>> Xem thêm:  Vướng mắc về đất nông nghiệp đã hết thời hạn và vấn đề mua bán, chuyển nhượng đất ?

Nội dung trả lời này hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật. Cụ thể phù hợp với Điều 17 Luật khiếu nại 2011 như trong văn bản trả lời số 108 đã nêu.

“Điều 17. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.”

2. Văn bản số 2xx/TL-UBND của UBND thị trấn Lvề việc trả lời đơn kiến nghị.

Trong văn bản này đã trích Khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai. Quy định này có nội dung cụ thể như sau: “1. Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008 mà đất đó chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này thì người nhận chuyển quyền sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật Đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được bắt buộc người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.”

Tuy nhiên, việc trích Điều luật này và việc nội dung phân tích trong văn bản này theo quan điểm của Luật Minh Khuê là không có cơ sở vì những lý do sau:

Thứ nhất, Khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP đã được sửa đổi bởi Khoản 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP. Do đó, vào thời điểm hiện tại Khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP không còn được áp dụng. Như vậy, UBND thị trấn L trích dẫn khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP là không đúng.

Thứ hai, nguồn gốc đất này là do ông Đ, bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2001. Từ năm 2001 đến nay diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2007 ông Đ mất và đến năm 2015 bà T mất. Tài sản ông Đ bà T để lại, như thông tin của quý khách cung cấp có ông T, ông TT là những người ở hàng thừa kế thứ nhất. Tuy nhiên, hai ông đã lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại văn phòng công chứng HV. Nội dung văn bản thỏa thuận là cho ông T hưởng toàn bộ nhà đất nêu trên. Như vậy, có thể thấy đất này ông T có được do hưởng thừa kế.

Hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất ở giữa ông T, bà L và ông Đ, bà T có xác nhận của UBND thị trấn L. Việc chuyển nhượng này có xác nhận của chính quyền địa phương, từ đó đến nay gia đình ông Đ bà T không bị bất kỳ cơ quan nào ra quyết định xử phạt hành chính liên quan đến diện tích đất này. Như vậy, có thể thấy ông Đ, bà T sử dụng đất ổn định, lâu dài và không có ai tranh chấp như thông tin của quý khách đã cung cấp.

Khoản 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 82 như sau:

>> Xem thêm:  Thẩm quyền đo đạc địa chính thuộc văn phòng đăng ký đất đai ?

"1. Các trường hợp đang sử dụng đất sau đây mà chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật:

a) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008;

b) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định này;

c) Sử dụng đất do nhận thừa kế quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.”

Theo nội dung này, như trong đơn khiếu nại của quý khách cũng nhắc đến đó là: Trường hợp ông Đ, bà T còn sống. Nếu làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì theo quy định tại điểm a Khoản 1 nêu trên thì ông Đông bà Tỵ có căn cứ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, nếu trường hợp của quý khách có biên bản phân chia di sản thừa kế trước năm 2014, thì có thể áp dụng điểm c khoản 1 nêu trên để yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Phạm Văn T.

Thứ ba, trong nội dung văn bản trả lời số 2xx/TL-UBND của UBND thị trấn L có ghi nhận “Khi chuyển nhượng cho ông Phạm Đ và bà Nguyễn Thị T năm 2001 ông bà ĐT có cải tạo và xây quây tường rào cổng bao quanh thửa đất số 23 hiện trạng thửa đất này được dự án dữ liệu hệ thống về đất đai có diện tích 183,1.2. Đối chiếu hồ sơ lưu tại thị trấn Lim và hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của ông Phạm Văn T thì nguồn gốc đất không đúng (trong hồ sơ lập xin cấp GCNQSDĐ ghi rõ. Đất sử dụng ổn định trước 15/10/1993- nhận chuyển nhượng năm 2001- Nhận tặng cho. Trong khi đó đến tháng 4/1994 khu đất này mới được UBND xã Vân T giao cho các hộ dân thôn DĐ đủ điều kiện xin đất ở.

Vấn đề đặt ra rằng, tại sao UBND thị trấn L không xử lý việc gia đình ông Đ, bà T cũng như ông T, bà L nếu như có hành vi sử dụng hay lấn chiếm đất trái phép. Việc đến tháng 4/1994 khu đất này mới được UBND xã VT giao cho các hộ dân thôn DĐ đủ điều kiện xin đất ở, vậy tại sao gia đình ông T, bà L vẫn được sử dụng ổn định lâu dài mà không có bất cứ cá nhân, tổ chức có thẩm quyền nào xử lý vi phạm cũng như ra quyết định thu hồi đất. Việc UBND thị trấn L lấy mốc thời gian là tháng 4/1994 để áp vào trường hợp của quý khách và cho rằng không phù hợp là hoàn toàn không có cơ sở.

Từ sự phân tích trên, theo quan điểm của Luật Minh Khuê quý khách có thể làm đơn khiếu nại đến chủ tịch UBND thị trấn L để làm rõ nội dung trên.

Trình tự thực hiện khiếu nại:

Bước 1: Tiếp nhận đơn khiếu nại. Nếu khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ tịch UBND cấp xã theo quy định tại Điều 17 Luật khiếu nại, người khiếu nại phải gửi đơn và các tài liệu liên quan (nếu có) cho người có thẩm quyền.
Bước 2: Thụ lý giải quyết khiếu nại. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, người có thẩm quyền thụ lý giải quyết và thông báo về việc thụ lý giải quyết; trường hợp không thụ lý để giải quyết thì nêu rõ lý do.
Bước 3: Xác minh nội dung khiếu nại. Trong thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm:
+ Kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp, nếu khiếu nại đúng thì ra quyết định giải quyết khiếu nại ngay.
+ Trường hợp chưa có cơ sở kết luận nội dung khiếu nại thì UBND xã tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại.

>> Xem thêm:  Xuất hóa đơn chuyển quyền sử dụng đất khi công ty không có ngành nghề kinh doanh chuyển nhượng đất hay bất động sản thì có xuất hóa đơn được không ?

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn đất đai”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Trường hợp được thực hiện đăng ký lần đầu đối với đất đai, nhà ở ? Quyền của người sử dụng đất, nhà ở ? Thời hạn phải thực hiện thủ tục là bao lâu ?