1. Khoản vay tín chấp sẽ trở thành nợ xấu khi nào?
Căn cứ vào Điều 3 của Thông tư 11/2021/TT-NHNN, các từ ngữ sau được giải thích như sau:
- Khoản nợ:
+ Khoản nợ được định nghĩa là số tiền mà tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã gửi, thanh toán, hoặc giải ngân từng lần. Trong trường hợp có nhiều lần giải ngân với các thời hạn hoặc kỳ hạn trả nợ khác nhau, mỗi lần giải ngân sẽ được xem xét là một khoản nợ riêng biệt.
+ Ngoài ra, nếu có nhiều lần giải ngân nhưng có cùng thời hạn hoặc kỳ hạn trả nợ, thì tất cả các lần giải ngân này sẽ được coi là một khoản nợ duy nhất, theo hợp đồng.
- Nợ xấu (NPL): Nợ xấu (NPL) là các khoản nợ được xác định là nợ xấu nội bảng, bao gồm các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 theo hệ thống phân loại nợ của ngân hàng. Điều này bao gồm những khoản nợ mà khách hàng chưa thực hiện việc hoàn trả đúng hạn hoặc có nguy cơ trở thành nợ không thể thu hồi được.
=> Khoản vay tín chấp này sẽ được phân loại là nợ xấu nếu nó rơi vào các nhóm 3, 4, hoặc 5, những nhóm mà quy định rằng khoản nợ đó có thể mang lại rủi ro đối với tổ chức tín dụng.
- Nhóm 3 đánh dấu cho các khoản nợ dưới tiêu chuẩn, tức là những khoản nợ có mức độ rủi ro tương đối thấp nhưng vẫn cần được theo dõi.
- Nhóm 4 là nơi ghi chú những khoản nợ nghi ngờ, có nguy cơ trở thành nợ không thể thu hồi được theo dự báo.
- Nhóm 5 đề cập đến các khoản nợ có khả năng mất vốn, tức là những khoản nợ mà tổ chức tín dụng đánh giá có rủi ro cao và có thể gây thiệt hại lớn cho hệ thống tài chính nếu không được xử lý một cách cẩn thận.
Với mỗi khoản nợ tín chấp vượt quá thời hạn thanh toán 90 ngày, việc xác định xem nó thuộc vào nhóm nào trong các nhóm trên sẽ quyết định liệu nó có được phân loại là nợ xấu hay không, và do đó cần phải được xử lý một cách cẩn thận và kịp thời.
2. Quy định về phân loại các khoản vay
Theo Điều 10 của Thông tư 11/2021/TT-NHNN, tổ chức tín dụng và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ thực hiện phân loại nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) dựa trên phương pháp định lượng thành 05 nhóm như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn):
- Khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
- Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định cụ thể:
+ Khách hàng đã trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu 03 (ba) tháng đối với nợ trung hạn, dài hạn, 01 (một) tháng đối với nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn;
+ Có tài liệu, hồ sơ chứng minh việc khách hàng đã trả nợ;
+ Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có đủ cơ sở thông tin, tài liệu đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý):
- Khoản nợ quá hạn đến 90 ngày, trừ các trường hợp đã quy định:
+ Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
+ Khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn trong các trường hợp sau đây:
- Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn, dòng tiền, khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm liên tục qua 03 lần đánh giá, phân loại nợ liên tục;
- Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng;
- Khoản nợ đã được phân loại vào nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4 theo quy định từ 01 (một) năm trở lên nhưng không đủ điều kiện phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn;
- Khoản nợ mà hành vi cấp tín dụng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
- Khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn, trừ các trường hợp đã quy định khác như:
+ Đối với nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện;
+ Khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định cụ thể:
+ Đối với khoản nợ quá hạn, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1);
+ Đối với nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1);
+ Khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn):
- Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, trừ các trường hợp đã quy định.
- Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn, trừ các trường hợp đã quy định.
- Các khoản nợ khác được miễn hoặc giảm lãi, chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi, và các trường hợp khác đã quy định.
- Các khoản nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra và các quyết định thu hồi nợ trước hạn chưa thu hồi được trong thời gian quy định.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ):
- Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, trừ các trường hợp đã quy định.
- Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày, trừ các trường hợp đã quy định.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định cụ thể.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn):
Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày và các trường hợp khác đã quy định.
3. Hướng giải quyết khi khoản vay tín chấp trở thành nợ xấu
Dựa trên Điều 11 của Thông tư 03/2013/TT-NHNN, các quy định cụ thể được trình bày như sau:
- Hạn chế khai thác thông tin tín dụng:
+ Thông tin tiêu cực về khách hàng vay: Thông tin tiêu cực về khách hàng vay chỉ được sử dụng để tạo lập sản phẩm thông tin tín dụng trong thời gian tối đa là 05 năm, kể từ ngày kết thúc thông tin tiêu cực đó, trừ khi có quy định khác của pháp luật.
+ Thông tin về các khoản nợ đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro: Thông tin về các khoản nợ đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro chỉ được cung cấp cho Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước khác theo quy định của pháp luật.
- Tự nguyện và cam kết với CIC:
Khách hàng vay và tổ chức tự nguyện khai thác dịch vụ thông tin tín dụng theo thoả thuận và cam kết với CIC (Tổ chức Xử lý thông tin Tín dụng) trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Hành vi vi phạm và hạn chế:
Tổ chức và cá nhân vi phạm quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có thể bị hạn chế một phần, tạm dừng trong một thời gian hoặc ngừng vĩnh viễn quyền khai thác dịch vụ thông tin tín dụng, tùy thuộc vào tính chất và mức độ của vi phạm.
=> Thông tin về khoản vay tín chấp của bạn đang được theo dõi trên hệ thống CIC. Để xóa bỏ nợ xấu một cách nhanh chóng, bạn cần tiến hành thanh toán toàn bộ số tiền gốc cũng như lãi suất của khoản vay mà bạn vẫn chưa trả.
Nếu khoản vay đã được phân loại vào nhóm nợ xấu, bạn sẽ gặp khó khăn trong việc đạt được bất kỳ khoản vay nào khác tại các ngân hàng. Người vay sẽ phải chờ đợi ít nhất 5 năm kể từ thời điểm người đó thanh toán hết nợ mới có thể được xem xét về khả năng vay lại. Vì vậy, cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng để kiểm tra và thanh toán đầy đủ số tiền còn nợ cũng như lãi suất của khoản vay đó.
Quý khách xem thêm bài viết sau: Vay tín chấp không trả nợ bị khởi kiện ra tòa chịu nghĩa vụ gì?
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn