1. Quy định về bảo mật thông tin khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng

Căn cứ dựa theo quy định tại Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có quy định cụ thể về việc bảo mật thông tin trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Cụ thể như sau:

Các quy định về bảo mật thông tin trong lĩnh vực ngân hàng và tổ chức tín dụng là rất quan trọng để đảm bảo sự tin cậy và an toàn của dữ liệu khách hàng. Dưới đây là mô tả chi tiết về các điều khoản bạn đã nêu:

Không tiết lộ bí mật kinh doanh: 

+ Nguyên tắc: Nhân viên, người quản lý và người điều hành của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép tiết lộ bí mật kinh doanh của tổ chức.

+ Ý nghĩa: Bảo vệ thông tin nội bộ của tổ chức, đảm bảo rằng các chi tiết quan trọng về chiến lược kinh doanh, quy trình, và thông tin nhạy cảm không bị rơi vào tay người không có quyền.

Bảo mật thông tin khách hàng

+ Nguyên tắc: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm bảo đảm tính bí mật của thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, và các giao dịch của khách hàng.

+ Ý nghĩa: Bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng, ngăn chặn rủi ro mất thông tin cá nhân, và duy trì sự tin cậy của khách hàng đối với tổ chức.

Hạn chế cung cấp thông tin cho bên thứ 3

+ Nguyên tắc: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, và các giao dịch của khách hàng cho tổ chức hoặc cá nhân khác, trừ khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được sự chấp thuận của khách hàng.

+ Ý nghĩa: Ngăn chặn việc sử dụng thông tin cá nhân mà không có sự cho phép, đồng thời duy trì tuân thủ theo quy định của pháp luật và tôn trọng quyền riêng tư của khách hàng.

Những nguyên tắc này nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo vệ thông tin nội bộ và thông tin cá nhân của khách hàng, cũng như tuân thủ nghiêm túc các quy định pháp luật liên quan đến bảo mật thông tin trong lĩnh vực tài chính.

Theo đó thì bảo mật thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, các tổ chức tín dụng

 

2. Nguyên tắc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng được quy định thế nào?

Căn cứ dựa theo quy định tại Điều 4 của Nghị định 117/2018/NĐ-CP có quy định về nguyên tắc giữ bí mật cung cấp thông tin khách hàng như sau:

Bảo mật và cung cấp thông tin theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010: Thông tin khách hàng phải được giữ bí mật và chỉ được cung cấp theo đúng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, và các quy định khác của pháp luật liên quan. Không cung cấp Thông tin Xác thực Khách hàng mà không có sự chấp thuận:

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin xác thực khách hàng (bao gồm mã khóa bí mật, dữ liệu sinh trắc học, mật khẩu truy cập) cho bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào mà không có sự chấp thuận của khách hàng đó bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác theo thỏa thuận với khách hàng. Yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng. Tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin xác thực khách hàng, bao gồm mã khóa bí mật, dữ liệu sinh trắc học, mật khẩu truy cập cho bất kỳ cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân nào mà không có sự chấp thuận của khách hàng. Để có được thông tin xác thực khách hàng, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thu được sự chấp thuận của khách hàng theo đúng quy định. Chấp thuận này có thể được thực hiện bằng văn bản hoặc qua các hình thức khác, nhưng phải được thỏa thuận trước đó với khách hàng. Cơ quan nhà nước phải giữ bí mật thông tin và chỉ sử dụng thông tin đó cho mục đích cụ thể được quy định trong yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật. Những nguyên tắc này đảm bảo rằng thông tin xác thực khách hàng không bị lạm dụng và chỉ được cung cấp khi có sự chấp thuận của khách hàng, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật và bảo vệ quyền riêng tư của người tiêu dùng.

Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước và Tổ chức khác: Cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân chỉ được yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp thông tin khách hàng theo đúng mục đích, nội dung, phạm vi, và thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc khi được sự chấp thuận của khách hàng. Họ phải chịu trách nhiệm về việc yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng. Cơ quan nhà nước và tổ chức khác chỉ được yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng theo đúng mục đích, nội dung, và phạm vi được quy định trong pháp luật. Mọi yêu cầu phải tuân thủ các quy định và hạn chế được đặt ra. Yêu cầu thông tin phải được thực hiện dưới sự thẩm quyền và quyền lực hợp lý, đảm bảo rằng cơ quan nhà nước và tổ chức khác chỉ yêu cầu thông tin khi cần thiết và phù hợp với mục đích cụ thể.

Giữ bí mật và sử dụng đúng mục đích thông tin khách hàng: Cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân phải giữ bí mật thông tin khách hàng và sử dụng thông tin đó đúng mục đích khi yêu cầu cung cấp thông tin. Họ không được cung cấp thông tin cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của khách hàng, trừ khi có quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước, tổ chức khác, và cá nhân phải đảm bảo tính bí mật của thông tin khách hàng mà họ nhận được từ tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Mọi biện pháp an ninh cần được áp dụng để ngăn chặn sự truy cập trái phép và lưu giữ tính bảo mật của dữ liệu. Thông tin khách hàng chỉ được sử dụng đúng mục đích mà nó được yêu cầu. Cơ quan nhà nước, tổ chức khác, và cá nhân phải tuân thủ mọi hạn chế và quy định về việc sử dụng thông tin khách hàng. Trước khi sử dụng thông tin khách hàng cho bất kỳ mục đích nào khác ngoài mục đích ban đầu, cơ quan nhà nước, tổ chức khác, và cá nhân phải thu được sự chấp thuận của khách hàng, bằng văn bản hoặc qua các hình thức khác theo thỏa thuận với khách hàng.

Lưu trữ và bảo quản hồ sơ: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm lưu trữ và bảo quản theo quy định của pháp luật về lưu trữ, bảo quản hồ sơ, tài liệu đối với thông tin khách hàng, hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng, và việc giao nhận thông tin khách hàng.

Những nguyên tắc này nhấn mạnh sự cần thiết của việc giữ bí mật thông tin khách hàng, đồng thời đảm bảo rằng việc cung cấp thông tin được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và với sự chấp thuận của khách hàng.

 

3. Bị ngân hàng làm lộ thông tin gây hậu quả nghiêm trọng thì khách hàng có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án?

Việc mà ngân hàng làm lộ thông tin gây hậu quả nghiêm trọng thì khách hàng hoàn toàn có thể làm đơn khởi kiện ra tòa theo quy định. 

Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì tranh chấp tài sản bảo đảm tín dụng có hai trường hợp có thể xảy ra và được xác định như sau:

+ Tranh chấp được xác định là vụ án dân sự nếu hợp đồng tín dụng được xác lập giữa tổ chức tín dụng với cá nhân tổ chức không đăng ký kinh doanh và bên vay không sử dụng việc tín chấp vào mục đích kinh doanh thu lợi

+ Tranh chấp được xác định là vụ án kinh doanh, thương mại theo quy định nếu hợp đồng tín dụng được xác lập giữa tổ chức tín dụng với cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận

Theo đó thì cả hai trường hợp trên thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đều thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn có trụ sở, do bị đơn là cơ quan theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Khởi kiện là quyền của mỗi cá nhân khi nhận thấy rằng quyền và lợi ích của bản thân mình đang bị xâm phạm. Việc khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bản thân mình

Vui lòng liên hệ 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn

Tham khảo thêm:Vay vốn ngân hàng thế chấp sổ đỏ mới nhất của Agribank