Trả lời:

Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

“1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2.   Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn để nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a)    Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b)    Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c)    Bị đơn có yêu cầu phản tổ vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tổ và Tòa án quyết định đỉnh chỉ giải quyết đổi với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xừ vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d)    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiền tòa thỉ bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đĩnh chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ”.

Tòa án vẫn tiến hành thủ tục xét xử khi đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên tòa trong các trường hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thực tế cho thấy, vụ án tranh chấp thừa kế thường diễn ra sau khi mở thừa kế khá lâu, khi nguyên đơn khởi kiện vụ án chia di sản thừa kế thì trong nhiều trường hợp, nguyên đơn, Tòa án đã áp dụng các biện pháp thu thập tài liệu nhưng không tìm thấy địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Trước đây, khi Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 có hiệu lực thì những trường hợp không xác định được địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án tranh chấp thừa kế, các tòa án đều xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phần thừa kế của họ giao cho một thừa kế quản lý. Sau khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực, theo Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết các vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự và Công văn số 109/KHXX ngày 30/6/2006 của Tòa án Nhân dân Tối cao về việc xử lý các trường hợp không biết địa chỉ của người bị kiện thì trong các vụ án dân sự nói chung, vụ án thừa kế nói riêng, khi không xác định được địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án thì các tòa án trả lại đơn khởi kiện, nếu đã thụ lý thì đình chỉ giải quyết vụ án. Việc này làm cho quyền và nghĩa vụ của các đương sự không được đảm bảo, không giải quyết triệt để vụ án.

Trước thực tế đó, Tòa án Nhân dân Tối cao đã ban hành Án lệ số 06/2016/AL để giải quyết trường hợp vụ án tranh chấp thừa kế có người thuộc diện thừa kế ở nước ngoài, nếu Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp, thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của những người đó thì Tòa án vẫn giải quyết yêu cầu của nguyên đơn; nếu xác định được di sản thừa kế, diện hàng thừa kế và người để lại di sản thừa kế không có di chúc thì giải quyết việc chia thừa kế cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật; phần tài sản thừa kế của những người vắng mặt, không xác định được địa chỉ sẽ tạm giao cho những người sống trong nước quản lý để sau này giao lại cho những thừa kế vắng mặt. Sau đó, trường hợp này được pháp điển hóa tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

Như vậy, trong trường hợp không tìm thấy địa chỉ của một hay một số người thừa kế thì vẫn có thể khởi kiện chia thừa kế. Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung và giải quyết phần di sản của người không tìm thấy địa chỉ theo quy định nêu trên.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến việc chia tài sản thừa kế, vui lòng liên hệ trực tiếp: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)