1. Không trả được nợ Ngân hàng có bị phạt tù không ?

Thưa luật sư. Em có vay vốn ngân hàng và em trả được một năm, sau một năm đó tình hình kinh tế của em gặp khó khăn và chưa có thể trả tiếp cho ngân hàng , em đã trễ trả tiền cho ngân hàng 10 tháng , em biết mình nợ xấu với ngân hàng.
Vậy cho em hỏi nếu em tiếp tục trả cho ngân hàng với số tiền còn lại cho ngân hàng những tháng tiếp theo cho ngân hàng thì có được không hay là em bị phạt gì không , và có khi nào em bị phạt ở tù không luật sư ?
Em mong sự hồi âm giúp đỡ của luật sư cho em , em chân thành cám ơn .

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Trường hợp này, Bạn và Ngân hàng đã giao kết và đang thực hiện hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể như sau:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Điều 464. Quyền sở hữu đối với tài sản vay
Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó.
Điều 465. Nghĩa vụ của bên cho vay
1. Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận.
2. Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.
3. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác.
Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Theo đó, Bạn có nghĩa vụ trả nợ tiền gốc và lãi đối với ngân hàng theo thỏa thuận hợp pháp được hai bên ghi nhận trong hợp đồng. Do không biết hợp đồng giữa Bạn và Ngân hàng cụ thể như thế nào cho nên theo quy định của pháp luật như viện dẫn ở trên, nếu Bạn trả nợ không đúng hạn thì kể từ thời điểm hết hạn trả nợ được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng thì Bạn phải có nghĩa vụ trả Nợ gốc, lãi trong hạn chưa trả được và lãi nợ quá hạn theo quy định tại điều 468 ở trên. Việc Bạn không trả được nợ của Ngân hàng theo thỏa thuận là hành vi vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm nghĩa vụ trả nợ của người vay. Và nếu bạn không có ý muốn lợi dụng vào việc vay đó để chiếm đoạt, không trả lại số tiền đã vay thì bạn chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự, đó là phải trả nợ gốc, lãi và phạt theo thỏa thuận và theo quy định của Bộ luật dân sự mà không phải chịu trách nhiệm hình sự và phải ở tù như bạn nghĩ.

Hiện tại giao dịch của bạn chỉ là một giao dịch đơn thuần chưa có yếu tố vi phạm về Hình sự. Nhưng bạn cần chú ý là nếu bạn vẫn không trả nợ được Ngân hàng chỉ có quyền yêu yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Tòa án dân sự để yêu cầu Tòa buộc bạn phải trả. Mọi hành vi cưỡng ép trả nợ đối với bạn đều là vi phạm pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Vay hỗ trợ trả góp và mua điện thoại trả góp mà mất khả năng lao động thì bị xử lý thế nào ?

2. Tư vấn giải quyết tranh chấp nợ tiền hợp đồng gia công ?

Kính chào Luật Minh Khuê, mình có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Bên mình có thực hiện hợp đồng gia công vỏ điện thoại cho 1 Công ty Hàn Quốc.

Hiện nay công ty đấy đã tuyên bố phá sản nhưng vẫn còn nợ công ty mình số tiền là 1 tỷ đồng. Vậy giờ mình phải làm thủ tục gì và có khả năng đòi lại số tiền nói trên không ?

​Mình xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.T.H

Tư vấn giải quyết tranh chấp nợ tiền hợp đồng gia công ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê! câu hỏi của bạn chúng tôi xin phép được tư vấn như sau:

Luật phá sản năm 2014 quy định về thứ tự phân chia tài sản như sau:

Điều 54. quy định về thứ tự phân chia tài sản

1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau:

a) Chi phí phá sản;

b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể đã ký kết;

c) Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.

2. Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:

a) Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;

b) Chủ doanh nghiệp tư nhân;

c) Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

d) Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của công ty cổ phần;

đ) Thành viên của Công ty hợp danh.

3. Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

Khi tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có đơn yêu cầu của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; chủ nợ; người lao động; chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước; cổ đông công ty cổ phần; hoặc thành viên hợp danh công ty hợp danh và có căn cứ chứng minh doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.

Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của Toà án mở thủ tục phá sản, các chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Toà án, trong đó nêu cụ thể các khoản nợ, số nợ đến hạn và chưa đến hạn, số nợ có bảo đảm và không có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải trả. Kèm theo giấy đòi nợ là các tài liệu chứng minh về các khoản nợ đó. Hết thời hạn này các chủ nợ không gửi giấy đòi nợ đến Toà án thì được coi là từ bỏ quyền đòi nợ.

Trường hợp của bạn, nếu đã gửi giấy đòi nợ và tài liệu chứng minh khoản nợ đến Tòa án thì sẽ được Tổ quản lý, thanh lý tài sản ghi vào Danh sách chủ nợ. Trong trường hợp Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp của công ty Hàn Quôc thì mẹ bạn được thanh toán khoản nợ theo về thứ tự phân chia di sản như sau:

- Phí phá sản;

- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

- Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.

Như vậy, nếu bạn có trong danh sách chủ nợ thì sẽ được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu tài sản của doanh nghiệp của công ty đối tác không đủ để thanh toán cho tất cả các chủ nợ thì bạn và những chủ nợ khác được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc nhắn tin, gọi điện quấy rối đòi nợ của Home Credit có phạm luật ?

3. Quy định về đòi nợ tiền bán hàng ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Thưa luật sư tôi kinh doanh gach men, năm 2009 có 2 người chị (họ hàng xa bên chồng tôi) mua làm nhà và còn nợ gần 20 triệu đồng đến nay chưa trả mặc dù tôi có đến tận nhà để hỏi nhưng mãi không trả.
Là người nhà nên lúc bán tôi ghi số nợ vào sổ nợ và có chữ kỹ của người nợ. Bây giờ tôi cũng không biết phải làm sao vì đòi quá nhiều lần mà không được. Luật sư cho tôi hỏi 2 người chị họ tôi như vậy có vi phạm pháp luật không? và nếu có thì họ phạm tội gì? Liệu rằng tôi có nên kiện ra tòa không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như tình huống mà bạn đã trình bày thì việc bạn cho 2 người chị nợ tiền, theo quy định của pháp luật dân sự thì giữa hai người đã hình thành hợp đồng vay tài sản.

Khi đến hạn, người vay tiền có nghĩa vụ trả lại cho chủ nợ số tiền đã vay (tiền gốc và tiền lãi - nếu có thỏa thuận).

Bạn đã đòi nhiều lần nhưng không thành và bên cạnh đó thì đã có căn cứ chứng minh được 2 người chị nợ tiền bạn ( chính là chữ kí ghi trong sổ nợ ). Do vậy việc thu hồi nợ sẽ tiến hành theo một trong 2 phương thức như sau:

Nếu những người nợ tiền có hành vi gian dối ngay từ khi thực hiện giao dịch hoặc có hành vi tẩu tán tài sản, bỏ trốn... nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi của người đó có dấu hiệu tội phạm (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản). Trong trường hợp này, bạn cần làm đơn tố giác gửi cơ quan điều tra, đề nghị điều tra, xử lý người nợ tiền.

Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Nếu cơ quan điều tra xử lý người vay bằng biện pháp hình sự thì quá trình giải quyết vụ án sẽ giải quyết đồng thời việc bồi thường cho những người bị hại do hành vi phạm tội đó gây ra.

Điều 30. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

- Trường hợp những người nợ tiền không có dấu hiệu phạm tội, việc không trả được nợ đúng hạn là do các tác động khách quan khác..., bạn có quyền khởi kiện người vay ra tòa án (theo thủ tục tố tụng dân sự) đề nghị Tòa án xét xử buộc hai người chị của bạn trả lại tiền.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

>> Xem thêm:  Vay tiền có giấy viết tay, tin nhắn nợ tiền thì có khởi kiện để đòi nợ được không ?

5. Trách nhiệm, quyền hạn của chủ nợ và khách nợ ?

Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 104/2007/NĐ-CP ngày 14/06/2007 về kinh doanh dịch vụ đòi nợ 1. Chủ nợ và khách nợ có trách nhiệm hợp tác với nhau cùng với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ, để xác định rõ các khoản nợ; khách nợ có trách nhiệm trả nợ cho chủ nợ.

Trả lời:

Các nghĩa vụ bao gồm:

1. Thực hiện ủy quyền cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ những nội dung, công việc liên quan đến xử lý nợ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết liên quan đến khoản nợ cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ.

3. Thanh toán phí dịch vụ và các chi phí hợp lý khác cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ theo hợp đồng đã ký kết.

4. Được từ chối làm việc khi người đại diện doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ không xuất trình được giấy tờ hợp pháp hoặc người đại diện doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ vi phạm các hành vi bị cấm nêu tại khoản 2 Điều 11 Nghị định này.

5. Yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ thông báo đầy đủ, thường xuyên về việc thực hiện các nội dung liên quan đến xử lý nợ theo hợp đồng đã ký kết.

6. Yêu cầu giao lại tài sản thu được từ khoản nợ và các tài liệu, tài sản đã giao cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ theo hợp đồng đã ký kết.

7. Trực tiếp làm việc hoặc bố trí người đại diện có thẩm quyền làm việc với người đại diện của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ.

8. Không chịu trách nhiệm liên đới đối với những hành vi mà doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ vi phạm pháp luật.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.0159.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật MinH Khuê

>> Xem thêm:  Đòi nợ khi người vay tiền bỏ trốn ? Thủ tục khởi kiện ra tòa án để đòi nợ ?