- 1. Các hình thức kiểm soát hoạt động hành chính nhà nước
- 2. Giám sát, kiểm tra của Đảng đối với hoạt động hành chính nhà nước
- 3. Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động hoạt động hành chính nhà nước
- 4. Giám sát của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động hoạt động hành chính nhà nước
- 5. Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước đối với hoạt động hành chính
- 6. Đặc điểm hoạt động giám sát của Tòa án
1. Các hình thức kiểm soát hoạt động hành chính nhà nước
Theo vị trí của chủ thể kiểm soát so với đối tượng kiểm soát (bộ máy hành chính nhà nước), có thể chia ra hai nhóm kiểm soát: kiểm soát từ bên ngoài bộ máy hành chính nhà nước (kiểm soát bên ngoài) và kiểm soát từ trong nội bộ bộ máy hành chính (kiểm soát nội bộ).
+ Kiểm soát bên ngoài do các chủ thể kiểm soát nằm ngoài bộ máy hành chính nhà nước tiến hành. Các hoạt động kiểm soát bên ngoài đối với hành chính nhà nước. Trong đó thực hiện các hoạt động giám sát như xem xét, theo dõi và đánh giá của các cơ quan quan quản lý nhà nước như cơ quan kiểm toán hội và Hội đồng nhân dân, Đảng CSVN ,các cơ quan tư pháp, hoạt động kiểm toán của cơ quan kiểm toán. Nhà nước, các tổ chức quần chúng và của công dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nuớc và cán bộ, công chức hành chính. Kiểm soát nội bộ là hình thức kiểm soát do các chủ thể bên trong hệ thống hành chính nhà nước tiến hành. Hoạt động kiểm soát bên trong bao gồm hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan thanh tra nhà nước.
+ Thanh tra: Thanh tra là hình thức hoạt động kiểm soát của tổ chức được CQHC thiết lập để tự mình thường xuyên tiến hành kiểm soát việc thực hiện quyền lực NN. Phạm trù hoạt động của thanh tra nhà nước được quy định tại Luật Thanh tra năm 2010.
+ Kiểm tra là hoạt động kiểm soát của cơ quan hay cá nhân cấp trên đối với cơ quan hay cá nhân cấp dưới (kiểm tra nội bộ) hoặc kiểm soát của cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực thực hiện đối với những cơ quan Không trực thuộc mình về tổ chức trong việc chấp hành pháp luật và các quy tắc quản lý về ngành, lĩnh vực mình quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
2. Giám sát, kiểm tra của Đảng đối với hoạt động hành chính nhà nước
Với vai trò lãnh đạo của Đảng đã được ghi nhận trong hiến pháp thi hoạt động giám sát kiểm tra của Đảng là tất yếu với hoạt động hành chính NN. Các cơ quan, các cấp mà Đảng giám sát bao gồm:
+ Đại hội đại biểu toàn quốc
+ Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng
+ Bộ Chính trị
+ Các bạn của Trung ương Đảng
+ Đại hội đại biểu các cấp và Đảng Ủy cấp đó
+ Tổ chức Đảng Cơ Sở và chi bộ.
+ Đảng giám sát hoạt động HCNN chủ yếu bằng 2 hình thức sau:
Trực tiếp lắng nghe Đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo trong các CQHCNN báo cáo về mọi mặt của bộ máy do mình quản lý. Trực tiếp kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, PL của NN của Đảng viên trong bộ máy HCNN.
3. Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động hoạt động hành chính nhà nước
Giám sát của Quốc hội: Đây là hoạt động giám sát toàn diện trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của hoạt động hành chính Nhà nước. Giám sát của Quốc hội thực hiện thông qua nhiều hình thức, tùy thuộc vào từng nội dung, tính chất của vụ việc. Có các hình thức giám sát của Quốc hội và đại biểu Quốc hội như:
Giám sát tại các kỳ họp thông qua việc nghe báo cáo của Chính phủ, Thủ tướng: Chất vấn và nghe trả lời chất vấn của Bộ trưởng, các thành viên Chính phủ về các mặt mà Quốc hội quan tâm. Các thành viên Chính phủ có trách nhiệm trả lời trực tiếp văn bản hoặc trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát thông qua các Uỷ ban và Hội đồng của Quốc hội thực hiện các hoạt động thẩm tra, điều tra và trình bày kết quả trước Quốc hội; Các đại biểu một mặt giúp Quốc hội và các Uỷ ban của Quốc hội giám sát hoạt động của Chính phủ, mặt khác còn trực tiếp giám sát hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ quản lý, có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp và khắc phục việc là vi phạm pháp luật, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, yêu cầu các cơ quan, đơn vị phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu quan tâm. Ngoài ra, Quốc hội còn tổ chức các đoàn giám sát, qua các cuộc tiếp xúc giữa đại biểu và các cử tri, để lắng nghe yêu cầu, kiến nghị của cử tri, hoặc tham dự kỳ họp của Hội đồng nhân dân.
Trong các trường hợp đặc biệt, Quốc hội có thể thành lập các đoàn thanh tra, Uỷ ban thanh tra để kiểm tra, xem xét những vụ việc đặc biệt Quốc hội cũng thực hiện giám sát thông qua xem xét báo cáo công tác và các báo cáo chuyên đề của Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác. Trên cơ sở xem xét các bảo cáo của Chính phủ, Quốc hội có thể cho ý kiến hoặc trực tiếp yêu cầu Chính phủ có những điều chỉnh nhất định về chủ trương, kế hoạch hoặc các biện pháp quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện trong từng lĩnh vực nhất định của Chính phủ. Bên cạnh đó, Quốc hội còn giám sát công tác ban hành văn bản của các cơ quan nhà nước, trong đó đặc biệt là việc ban hành văn bản pháp quy và văn bản hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước, mà đứng đầu là Chính phủ và các bộ, ngành, Quốc hội cũng giám sát thông qua các phiên giải trình, điều trần và bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
Căn cứ vào kết quả giám sát, Quốc hội có thể ra các quyết định tác động vào tổ chức, nhân sự và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước như: Về tổ chức - quyết định thành lập hay bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thành lập mới, chia, nhập, điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập, giải thể các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; Về nội dung – bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Chính phủ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,... khi trái với Hiến pháp và luật; về nhân sự. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm cách chức danh cao nhất của bộ máy hành chính nhà nước, phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng về bầu phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.
4. Giám sát của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động hoạt động hành chính nhà nước
Giám sát của Hội đồng nhân dân: Với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Hội đồng nhân dân các cấp sẽ thực hiện quyền giám sát đối với Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân, các đơn vị đóng trên. địa phương mình. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát thông qua nhân dân, Thủ trưởng cơ quan y môn của Ủy ban nhân dân, xem xét văn bản quy phạm pháp luật Các hoạt động như: xem xét báo cáo, trả lời chất vấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành viên Ủy ban của Ủy ban nhân dân cùng cấp, thành lập Đoàn giám sát, bỏ phiếu tín nhiệm.
Căn cứ vào kết quả giám sát, Hội đồng nhân dân có quyền bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó chủ tịch, Ủy viên thường phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, ra Nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của trực Ủy ban nhân dân.
5. Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước đối với hoạt động hành chính
Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là việc đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin tài chính công, tài sản công hoặc báo cáo tài chính liên quan đến quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; việc chấp hành pháp luật và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Thông thường, ở tất cả các nước đều có kiểm toán nhà nước nhưng cách thức tổ chức và vị trí pháp lý là khác nhau. Ở nước ta, Kiểm toán Nhà nước hiện nay là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Cơ quan kiểm toán thực hiện qua hoạt động kiểm toán đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở một số phương diện như: kiểm toán báo cáo chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Trên cơ sở kiểm toán, các cơ quan kiểm toán ban hành các kết luận kiểm toán với các kiến nghị cụ thể như yêu cầu chấn chỉnh, thu hồi tiền, tài sản bị thất thoát, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các cơ quan, tổ chức, cá nhân có các vi phạm pháp luật.
Theo quy định tại Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 mục đích hoạt động của KTNN là “phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước”. Vấn đề này tiếp tục được tái khẳng định ở khoản 1 Điều 118 Hiến pháp năm 2013: “Kiểm toán Nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”.
Đối tượng của kiểm toán nhà nước là việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán. Nguyên tắc hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và trung thực, khách quan, công khai, minh bạch.
Các hành vi bị cấm trọng hoạt động kiểm theo quy định tại điều 8 Luật Kiểm toán nhà nước bao gồm;
1. Nghiêm cấm các hành vi sau đây đối với Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán viên nhà nước và cộng tác viên Kiểm toán nhà nước:
a) Sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đơn vị được kiểm toán;
b) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động bình thường của đơn vị được kiểm toán;
c) Đưa, nhận, môi giới hối lộ;
d) Báo cáo sai lệch, không đầy đủ kết quả kiểm toán;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi;
e) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp của đơn vị được kiểm toán;
g) Tiết lộ thông tin về tình hình và kết quả kiểm toán chưa được công bố chính thức.
2. Nghiêm cấm các hành vi sau đây đối với đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan
a) Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho cuộc kiểm toán theo yêu cầu của Kiểm toán nhà nước và Kiểm toán viên nhà nước;
b) Cản trở công việc của Kiểm toán nhà nước và Kiểm toán viên nhà nước;
c) Báo cáo sai lệch, không trung thực, không đầy đủ, kịp thời hoặc thiếu khách quan thông tin liên quan đến cuộc kiểm toán của Kiểm toán nhà nước;
d) Mua chuộc, đưa hối lộ cho Kiểm toán viên nhà nước và cộng tác viên Kiểm toán nhà nước;
đ) Che giấu các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính công, tài sản công.
3. Nghiêm cấm mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm toán, kết quả kiểm toán của Kiểm toán nhà nước và Kiểm toán viên nhà nước, cộng tác viên Kiểm toán nhà nước.
6. Đặc điểm hoạt động giám sát của Tòa án
Đặc điểm hoạt động giám sát của Tòa án: Việc giám sát hành chính của cơ quan tư pháp chỉ được tiến hành trên một vài nội dung nhất định, không mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp, toàn diện như giám sát hành chính của cơ quan thuộc hệ thống hành pháp. Thông thường, giám sát hành chính của cơ quan tư pháp được tiến hành thông qua việc Tòa án ra phán quyết đối với tính hợp pháp của các quyết định hành chính của cơ quan hành chính, cán bộ, công chức bị tổ chức, công dân khởi kiện. Ở Việt Nam, tòa thành chính thuộc Tòa án nhân dân các cấp cũng tham gia vào việc giám sát hành chính thông qua việc xét xử các khiếu kiện về quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính, cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan hành chính theo quy định của pháp luật. Các phản quyết của Tòa hành chính không chỉ có tác dụng những tính khuyến nghị đối với cơ quan hành chính mà còn tác dụng bắt buộc, Tòa án có thể hủy bỏ hoặc làm thay đổi quyết định, hành vi hành chính.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.