Trả lời:

1. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

1.1 Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có lỗi trong tổn thất hàng hoá

- Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền. Trường họp tổn thất của hàng hoá do lỗi của khách hàng, lỗi của khách hàng ở đây có thể là do thông tin về hàng hoá không đầy đủ, chậm giao hàng, chậm nhận hàng, ... Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đã làm đầy đủ các trách nhiệm nhưng không thể hạn chế các tổn thất nên không có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này.

- Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền. Khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền có thể đưa ra những chỉ dẫn riêng biệt đối với việc thực hiện dịch vụ, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có trách nhiệm thực hiện đầy đủ theo chỉ dẫn của khách hàng, trong trường hợp thực hiện chỉ dẫn gây ra tổn thất hàng hoá, thương nhân không phải thực hiện trách nhiệm bồi .thường tổn thất. Tuy nhiên, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có trách nhiệm thực hiện tối đa các khả năng để đảm bảo quyền lợi của khách hàng.

- Tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá. Đây là trường hợp hàng hoá có khuyết tật, khuyết tật này gây ra tổn thất trong quá trình thực hiện dịch vụ. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng trong trường hợp này vì không có dấu hiệu lỗi.

1.2 Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vi phạm hợp đồng vì lý do khách quan

- Tổn thất phát sinh do sự kiện bất khả kháng. Trường hợp bất khả kháng có thể là thiên tai, bão lũ, địch họa, mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đã sử dụng mọi biện pháp nhưng không thể bảo vệ được hàng hoá, hạn chế tổn thất. Đây là trường hợp miễn trách nhiệm theo tập quán.

- Tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải. Các tập quán vận tải có thể là tập quán quốc gia hoặc tập quán vận tải quốc tế được quy định tại các phiên bản Incoterms. Với tốc độ phát triển liên tục của ngành dịch vụ vận tải, các tập quán vận tải cũng được thay đổi thường xuyên hơn, do đó, rủi ro đối với việc thực hiện dịch vụ logistics liên quan đến vận tải lớn hơn.

1.3 Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo khiếu nại, khởi kiện theo hiệu lực

Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm đối với tổn thất hàng hoá trong trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận. Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại trọng tài hoặc toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng (điểm e khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại năm 2005). Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, thương nhân chỉ đảm bảo về hàng hoá trong quá trình thực hiện dịch vụ. Sau khi giao hàng, người nhận có trách nhiệm kiểm fra chất lượng hàng hoá và phải khiếu nại ngay nếu phát hiện hàng hoá bị lỗi có thể do quá trình thực hiện dịch vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics gây ra. Nếu không phát hiện ra ngay, lỗi của hàng hoá là lỗi của nhà sản xuất, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không chịu trách nhiệm về những lỗi này.

2. Giới hạn trách nhiệm thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Về nguyên tắc, dịch vụ logistics là dịch vụ có nhiều rủi ro liên quan đến mất mát, hư hỏng hàng hoá trong quá trình hàng hoá được chuyển từ khách hàng đến người nhận. Việc quy định về giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nhằm giảm thiểu những rủi ro trong quá trình kinh doanh cho thương nhân. Theo tập quán thương mại quốc tế về kinh doanh dịch vụ logistics, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giá trị tổn thất hàng hoá, trừ trường hợp thương nhân cung ứng và khách hàng có thỏa thuận khác (Tham khảo: Điều 238 Luật Thương mại năm 2005). Như vậy, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được quy định khác với nguyên tắc của chế tài bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại nói chung. Vì nguyên tắc chung trong bồi thường thiệt hại là bên vi phạm hợp đồng gây thiệt hại bao nhiêu thì phải chịu trách nhiệm bồi thường bấy nhiêu. Giá trị bồi thường thiệt hại trong hợp đồng bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu người có quyền và lợi ích liên quan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng hoặc giao trả hàng chậm là do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cố ý hành động hoặc không hành động để gây ra mất mát, hư hỏng, chậm trễ hoặc đã hành động hoặc không hành động một cách mạo hiểm và biết rằng sự mất mát, hư hỏng, chậm trễ đó chắc chắn xảy ra.

2.1 Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistìcs liên quan đến vận tải

Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vận tải đơn phương thức, giới hạn đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chỉ thực hiện phương thức vận tải:

- Theo quy định pháp luật về giao thông đường bộ, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đường bộ trong hợp đồng vận tải không có nội dung quy định về việc bồi thường hàng hoá hư hỏng, mất mát, thiếu hụt do lỗi của người kinh doanh vận tải hàng hoá và hai bên không thỏa thuận được mức bồi thường thì bồi thường cho khách hàng theo mức do pháp luật quy định (Điều 10 Nghị định số 10/2020/NĐ-CP ngày 17/01/2020 của Chính phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô).

- Theo pháp luật về giao thông đường thủy nội địa, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đường thủy nội địa căn cứ vào giá trị hàng hoá khai trong giấy vận chuyển và theo mức thiệt hại thực tế mà yêu cầu bồi thường, nhưng không vượt quá giá trị hàng hoá đã ghi trong giây vận chuyển. Trường hợp người thuê vận tải không khai giá trị hàng hoá thì mức bồi thường được tính theo giá trung bình của hàng hoá cùng loại, nhưng không vượt quá mức bồi thường do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định.

- Theo pháp luật và tập quán về hàng hải, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đường biển trong trường hợp chủng loại, giá tri của hàng hoá không được người gửi hàng, người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hoá trong giới hạn tối đa mức tối đa tương đương 666,67 SDR cho một kiện, một đơn vị hoặc 2,00 (hai) SDR/01 (một) kilogram (kg) trọng lượng cả bì của số hàng hoá bị mất mát, hư hỏng tuỳ theo giá trị hàng hoá. SDR (Quyền rút vốn đặc biệt) là đơn vị tính toán do Quỹ Tiền tệ quốc tế quy định. Tỉ giá của SDR đối với đồng Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trên cơ sở tỉ giá hối đoái mà Quỹ tiền tệ quốc tế tính toán và công bố hàng ngày. Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiên Việt Nam theo tỉ giá tại thời điểm thanh toán bôi thường. Khi công-te-nơ hoặc công cụ tương tự được dùng để đóng hàng hoá thì mỗi kiện hoặc đơn vị hàng hoá đã ghi trong chứng từ vận chuyển, đã đóng vào công cụ được coi là một kiện hoặc một đơn vị hàng hoá. Trường hợp chứng từ vận chuyển không ghi rõ số kiện hoặc đơn vị hàng hoá thì công- te-nơ hoặc công cụ đó chỉ được xem là một kiện hoặc một đơn vị hàng hoá. Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hoá được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào chứng từ vận chuyển thì người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hoá trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:

+ Đối với hàng hoá bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo;

+ Đối với hàng hoá bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hoá. Giá trị còn lại của hàng hoá được xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm và địa điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được thì căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm và địa điểm bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển đến cảng trả hàng.

- Theo quy định và tập quán vận tải hàng không, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đường hàng không do làm mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hoặc do vận chuyển chậm là 17 SDR cho mỗi kilôgam hàng hoá (Tham khảo: Công ước quốc tế Warsava về trách nhiệm bồi thường trong vận tải hàng không năm 1929 sửa đổi năm 1955); trường hợp người gửi hàng có kê khai giá trị của việc nhận hàng hoá tại nơi đến và trả một khoản phí bổ sung thì người vận chuyển phải bồi thường theo mức giá trị đã được kê khai, trừ trường hợp người vận chuyển chứng minh được rằng giá trị đã kê khai lớn hơn giá trị thực tế.

Trong trường hợp thương nhân sử dụng hình thức vận tải đa phương thức, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được giới hạn trách nhiệm như sau: Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vận tải đa phương thức có sử dụng vận tải biển chịu trách nhiệm theo tập quán và pháp luật hàng hải. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vận tải đa phương thức không bao gồm việc vận chuyên hàng hoá bằng đường biển hoặc đường thủy nội địa, thì ưách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức được giới hạn bởi số tiền không vượt quá 8,33 SDR/01 (một) kilogram (kg) trọng lượng cả bì của hàng hoá bị mất mát hoặc hư hỏng (Nghị định số 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chinh phủ về vận tải đa phương thức (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 87/2011/NĐ-CP và Nghị định số 144/2018/NĐ-CP). Trường hợp mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá xảy ra ưong một công đoạn cụ thể của hoạt động vận tải, mà ở công đoạn đó điều ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia có quy định một giới hạn trách nhiệm khác, nếu hợp đồng vận tải được ký riêng cho công đoạn đó thì giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức đối với mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá sẽ được áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó hoặc của pháp luật quốc gia đó.

2.2 Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logỉstics không liên quan đến vận tải

Đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không liên quan đến vận tải giới hạn trách nhiệm là toàn bộ giá trị của hàng hoá đó, trong trường hợp khách hàng đã thông báo trước về giá trị của hàng hoá cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về giá trị của hàng hoá, thương nhân kinh doanh dịch vụ sẽ bồi thường một khoản tiền tương ứng với thù lao dịch vụ. Ví dụ: trong dịch vụ bưu chính khoản tiền bồi thường sẽ không thấp hơn 04 lần giá cước đối với dịch vụ bưu chính trong nước, còn với dịch vụ bưu chính quốc tế được thực hiện theo tập quán quốc tế (Tham khảo: Điều 25 Nghị định số 47/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Luật Bưu chính). Tuy nhiên, trong mọi trường hợp giá trị bồi thường không vượt quá 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu (điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP).

Luật Minh KHuê (sưu tầm & biên tập)