- 1. Tại Thái Lan:
- 2. Tại Hồng Kông:
- 3. Tại Hàn Quốc:
- 4. Bài học cho các Ngân hàng Thương Mại Việt Nam trong công tác quản trị rủi ro tín dụng
- 5. Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam
- 5.1 Chú trọng xây dựng chính sách tín dụng an toàn và hiệu quả
- 5.2 Hoàn thiện mô hình quản trị điều hành.
- 5.3 Chất lượng đội ngũ nhân sự ngày càng cao.
1. Tại Thái Lan:
Hệ thống ngân hàng Thái Lan sau khi bị chao đảo bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Châu Á năm 1997-1998 đã điều chỉnh và thay đổi căn bản hoạt động ngân hàng, đặt biệt khâu trọng yếu nhất trong quản lý đó là xây dựng và thực thi hệ thống quản trị rủi ro ngân hàng hiệu quả, cụ thể:
.png)
>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162
Các NHTM tách bạch chức năng các bộ phận và tuân thủ quy trình cho vay: Tại ngân hàng Bangkok tách bộ phận cho vay thành hai bộ phận độc lập kiểm soát lẫn nhau (bộ phận tiếp nhận, giải quyết hồ sơ và bộ phận thẩm định); Phân loại khách hàng theo nhóm khác nhau để áp dụng những quy trình thẩm định và cho vay riêng phù hợp với từng đối tượng khách hàng doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, khách hàng tiêu dùng; áp dụng nghiêm ngặt những nguyên tắc tín dụng, chuyển từ chỉ quan tâm đến tài sản thế chấp sang thẩm định chặt chẽ tình hình tài chính, năng lực của khách hàng và tính khả thi của việc sử dụng vốn vay.
Ban hành hệ thống chấm điểm đánh giá xếp loại khách hàng hữu hiệu, trên cơ sở đó xếp loại khách hàng và có chính sách tín dụng phù hợp với từng khách hàng.
Xây dựng và áp dụng rộng rãi hệ thống đo lường, giám sát các loại rủi ro về tín dụng, thị trường và quản lý thanh khoản theo thông lệ ngân hàng quốc tế.
2. Tại Hồng Kông:
Thành lập cơ quan quản lý giám sát hoạt động của các tổ chức tài chính với tên gọi là Cơ quan quản lý tiền tệ Hồng Kông (HongKong Monetary Authority). Cơ quan này quy định các biện pháp thận trọng trên cơ sở áp dụng các quy định của Ủy Ban Basel. Trong đó, có các quy định về cấp phép hoạt động, các tỷ lệ bảo đảm an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ khả năng chi trả, giới hạn cho vay đối với một khách hàng…
Các NHTM phải xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý khả năng chi trả nội bộ, hệ thống đánh giá xếp loại tín dụng và quy định về trích lập dự phòng rủi ro. Những quy định này phải được Ngân hàng Trung Ương chấp thuận cho áp dụng. Bên cạnh đó, phải lập 100% dự phòng cho các khoản nợ xấu, 75% cho các khoản nợ có vấn đề và 15% cho các khoản nợ cần chú ý.
3. Tại Hàn Quốc:
Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Châu Á, Chính Phủ Hàn Quốc đã tổ chức thanh lý các ngân hàng không có khả năng hoạt động, tiến hành sáp nhập nhiều ngân hàng hoạt động yếu kém đi đôi với cải cách căn bản hoạt động của hệ thống ngân hàng. Nâng mức quy định áp dụng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 5% lên 8%, tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của NHTM. Yêu cầu các NHTM phải phân loại khoản vay theo 5 nhóm nợ (nợ bình thường, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn).
Trên cơ sở đó, phải trích lập dự phòng tương ứng nhóm nợ (0%, 10%, 20%, 50%, 100%). Thành lập hệ thống Ủy Ban thanh tra, giám sát đặt dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ gồm 9 thành viên. Ủy ban hoạt động giám sát tại chỗ và giám sát từ xa; định kỳ đánh giá xếp loại các ngân hàng theo hệ thống Camels.
4. Bài học cho các Ngân hàng Thương Mại Việt Nam trong công tác quản trị rủi ro tín dụng
Phải tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy trình giải quyết các khoản vay.
Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong hoạt động tín dụng và thẩm quyền phán quyết tín dụng.
Xây dựng và ứng dụng hiệu quả các mô hình quản trị rủi ro với bộ máy quản trị điều hành thông suốt, thông tin phòng ngừa rủi ro chất lượng.
Hoàn thiện hệ thống thông tin và các mô hình chấm điểm xếp loại khách hàng hỗ trợ cho công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
Tuân thủ đúng các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và các quy định về an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
5. Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam
5.1 Chú trọng xây dựng chính sách tín dụng an toàn và hiệu quả
Chính sách tín dụng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuyếch trương hoặc hạn chế tín dụng để đạt mục tiêu đã được hoạch định và hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh tín dụng. Chính vì vậy, trong hoạt động kinh doanh tín dụng, đã xây dựng mục tiêu của chính sách tín dụng là lợi nhuận, an toàn và lành mạnh.
Về lợi nhuận: áp dụng một chính sách tín dụng năng động, chú trọng tìm kiếm đầu ra và áp dụng mức lãi suất cạnh tranh ngang bằng với các NHTM khác. Bên cạnh đó, cũng chú trọng thu hút khách hàng, mở rộng quan hệ tín dụng, tiếp thị và tuyên truyền quảng cáo.
Sự an toàn: Mục tiêu an toàn và lợi nhuận là hai mục tiêu mâu thuẫn nhau trong chính sách tín dụng. Nếu một chính sách tín dụng có lợi nhuận cao thường kéo theo sự an toàn thấp và ngược lại. để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh tín dụng, xây dựng chính sách tín dụng khá bài bản:
Chính sách tín dụng quy định về quy mô và giới hạn tín dụng, tỷ trọng tín dụng trong tổng tài sản có; Quy định các loại hình tín dụng, đa dạng hóa lĩnh vực tài trợ để có thể nắm bắt được nhịp đập của nền kinh tế, phân tán rủi ro, song cũng chọn một thế mạnh để làm mũi nhọn tài trợ cho mình, tránh sự cạnh tranh gây gắt với các ngân hàng khác.
Chính sách tín dụng quy định rõ ràng trách nhiệm giữa các khâu thẩm định, cho vay và theo dõi nợ vay; Quy định về việc xử lý nợ trong các trường hợp cho vay theo quy định, xử lý tài sản đảm bảo tiền vay để thu hồi nợ và việc phân loại nợ, trích dự phòng rủi ro đối với khoản cho vay đã được quy định rõ ràng tiến sát với thông lệ quốc tế.
Nhằm định hướng cho cán bộ khi cấp tín dụng, chính sách tín dụng đã hoạch định rõ ràng một số tiêu chuẩn nhất định về lãi suất: lãi suất cho vay không được thấp hơn lãi suất sàn do NHCTVN quy định, đối với khách hàng làm ăn tốt, khách hàng VIP có uy tín thì có thể được hưởng lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất sàn; đối với khách hàng làm ăn kém thì phải chịu mức lãi suất cao hơn để bù đắp rủi ro cho mình.
Sự lành mạnh: Tính chất lành mạnh của các khoản tín dụng thuộc về đạo đức xã hội của nhà kinh doanh ngân hàng. Vì vậy, nó có thể coi là mục tiêu của chính sách tín dụng hoặc những quy tắc của tín dụng. xác định động cơ hoạt động kinh doanh của mình gắn liền với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào thì mục tiêu sống còn cũng là lợi nhuận. Do đó, để đảm bảo một sự phát triển cân đối của nền kinh tế, NHNN đã can thiệp vào hoạt động tín dụng và phải tuân thủ theo sự điều tiết này.
5.2 Hoàn thiện mô hình quản trị điều hành.
Ban quản trị điều hành là một bộ phận có mô hình hoạt động chặt chẽ gắn liền với từng nghiệp vụ kinh doanh, được phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng từng cấp thống nhất. đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác tín dụng, ban quản trị điều hành đã chỉ đạo các phòng nghiệp vụ thực hiện nghiêm túc công việc với mục đích đảm bảo an toàn không những về mặt tài sản mà còn an toàn cả về con người.
Quản trị điều hành được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực hoạt động nhưng được đặc biệt quan tâm là trong lĩnh vực hoạt động tín dụng, vì đây là lĩnh vực hoạt động xảy ra nhiều rủi ro. Với phương châm phòng ngừa là chính, đảm bảo an toàn trong các nghiệp vụ hàng ngày, đến nay hoạt động kinh doanh vẫn được an toàn và tiếp tục phát triển. Chất lượng tín dụng được nâng cao và đã được NHCTVN đánh giá là một trong những ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt. Có được kết quả như vậy là do đã có mô hình quản trị hiệu quả và ngày được hoàn thiện, thể hiện qua các mặt sau:
- Ban điều hành được phân cấp từng mảng nghiệp vụ, mỗi mảng nghiệp vụ có một Phó giám đốc phụ trách để đảm bảo thông tin chỉ đạo và phản hồi từ cấp dưới được thông suốt. đồng thời, việc giám sát việc thực hiện công tác tín dụng của cán bộ tín dụng cũng đảm bảo đầy đủ và trọn vẹn nhằm hạn chế những thiếu sót không đáng có; Phân công trách nhiệm cụ thể từng lãnh đạo đối với từng ngành nghề, từng lĩnh vực cho vay phù hợp với năng lực từng người để từ đó có thể phát huy hết hiệu quả trong công tác tiếp thị tín dụng cũng như trong quyết định cho vay.
- Đã đưa ra những hình phạt cụ thể đối với mỗi cán bộ cho từng những sai phạm do chính cán bộ gây ra nhằm mục đích nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỹ luật của nhân viên đối với công việc.
- Ban điều hành luôn được báo cáo đầy đủ các thông tin phản hồi những khó khăn, vướng mắc về công tác tín dụng cũng chính vì tại đã áp dụng một hệ thống mạng thông tin do bộ phận quản lý rủi ro và bộ phận tín dụng cung cấp:
Thông tin họp giao ban hàng ngày, thông tin giải quyết hồ sơ vay vốn., thông tin về thực hiện các chỉ đạo của cấp trên, của NHCTVN.
Báo cáo tiến độ thực hiện mở rộng, nâng cao chất lượng tín dụng.
Thông tin trên mạng các mẫu biểu phòng ngừa rủi ro: báo cáo doanh nghiệp có hàng tồn kho, công nợ cao, hệ số tự tài trợ thấp, vốn luân chuyển âm và lộ trình khắc phục.
Thông tin cảnh báo thị trường, ngành nghề, thông tin về lãi suất, tỷ giá.
5.3 Chất lượng đội ngũ nhân sự ngày càng cao.
Đã nhận thức được yếu tố con người là động lực của sự phát triển, đầu tư vào con người có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển trong quá trình cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hội nhập. Trên cơ sở chiến lược kinh doanh, đã xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp với định hướng phát triển. Nâng cao chất lượng tuyển dụng đầu vào:
Có quy chế tuyển dụng rõ ràng và coi trọng phương pháp tuyển dụng cạnh tranh trên thị trường, quy chế tuyển dụng minh bạch, nhu cầu tuyển dụng được đăng trên các báo và tạp chí phổ biến, trên cơ sở đó loại bỏ tình trạng tuyển các trường hợp do quan hệ thân quen, chất lượng thấp vào làm việc.
Đưa ra tiêu chuẩn chọn cán bộ tín dụng: cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, trình độ quản lý và kỹ năng cá nhân, phải có kiến thức sâu rộng về kinh tế, luật pháp và các chính sách liên quan đến quyền sở hữu tài sản, đăng ký giao dịch đảm bảo, phát mại tài sản, có trình độ đại học, trên đại học, tiếng Anh trình độ C trở lên, trình độ tin học B. Bồi dưỡng, đào tạo chuyên sâu dài hạn và khuyến khích tự đào tạo:
Khi được tuyển dụng, cán bộ tín dụng được đào tạo phù hợp với lĩnh vực chuyên môn trước khi bắt đầu giao việc chính thức. Trong quá trình công tác, cán bộ được tổ chức tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên đề về quản trị rủi ro, phân tích tài chính doanh nghiệp và thẩm định dự án đầu tư, hội thảo về UCP 600, mậu dịch quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế, chứng khoán và cơ hội đầu tư, diễn đàn DNV&N, các hội nghị chuyên đề về tín dụng, các lớp học về Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật đầu tư, Luật đấu thầu, các lớp về kỹ năng giao tiếp và Marketing ngân hàng, thường xuyên tổ chức học tập các văn bản về quy chế, quy trình, chế độ liên quan đến công tác tín dụng cho toàn thể cán bộ khối tín dụng. Ngoài ra, cán bộ còn được nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tư duy, quản lý điều hành, cập nhật kiến thức kinh doanh ngân hàng hiện đại tại các lớp đào tạo ngắn hạn và dài hạn ở nước ngoài.
Ngoài việc được bồi dưỡng, đào tạo, cán bộ còn tự đào tạo ngoài giờ như học anh văn, vi tính, nâng cao trình độ bằng cách theo học các lớp sau đại học. Hiện nay, ngoài trình độ đại học, cán bộ có bằng thạc sỹ cũng tăng, một số đang hoàn tất chương trình sau đại học, có chế độ đãi ngộ và tiến đến quy hoạch, bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, hướng tới tạo ra nhiều nhân lực có trình độ cao, những chuyên gia ngân hàng tầm cỡ quốc tế cho mai sau và nhất là đáp ứng nhu cầu cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập.
Nâng cao phẩm chất đạo đức cán bộ: Ngân hàng chú trọng rèn luyện tư cách, đạo đức, tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp và có ý thức tổ chức kỷ luật cho cán bộ bằng cách gắn trách nhiệm của cán bộ với hiệu quả công việc, bình xét thi đua khen thưởng, bổ nhiệm vị trí lãnh đạo.
Phân công cán bộ tín dụng thực hiện các đề tài phân tích đánh giá các ngành có khó khăn như sắt thép, may mặc, vật liệu xây dựng để cán bộ có cái nhìn tổng quát và ý thức được những khó khăn từ đó đưa ra giải pháp khắc phục.
Áp dụng mô hình chấm điểm khách hàng: Xây dựng mô hình chấm điểm khách hàng để đưa vào ứng dụng trong toàn hệ thống. Trong việc thẩm định khách hàng, đã áp dụng mô hình chấm điểm xếp loại khách hàng từ đó có quyết định đúng trong việc cấp tín dụng để hạn chế rủi ro. Mô hình chấm điểm khách hàng dựa trên 6 tiêu chuẩn, được gọi là mô hình 6C
Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích xin vay vốn của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng củ; Còn đối với khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác.
Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào đối tượng vay vốn. đối với cá nhân, dưới 18 tuổi không đủ tư cách ký hợp đồng tín dụng; đối với doanh nghiệp phải căn cứ vào giấy phép kinh doanh, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm người điều hành.
Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, từ tiền bán thanh lý tài sản hoặc tiền từ phát hành chứng khoán…Sau đó, phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính sau:
Dựa vào các tiêu chuẩn 6C và thực hiện điều tra khách hàng về lịch sử pháp lý, lịch sử giao dịch, lịch sử thanh toán và các số liệu khác để dự báo rủi ro. Ngoài ra, còn điều tra các dữ liệu như giới tính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, kinh nghiệm làm việc, số dư tiền gửi của khách hàng…Từ đó, đưa ra các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để tính điểm cho khách hàng. Căn cứ vào kết quả tính toán được, cán bộ tín dụng đánh giá xếp loại khách hàng, từ đó đưa ra quyết định tín dụng.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê