Khách hàng: Kính thưa Luật sư Kinh Khuê, Luật sư hãy phân tích giúp tôi kinh nghiệm về phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế của Quốc gia Pêru và Trung Quốc; Hai quốc gia này có những biện pháp gì để phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế?
Cảm ơn!
Trả lời:
Tranh chấp về đầu tư quốc tế là những tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư giữa nhà nước nơi tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư từ quốc gia khác phát sinh trên cơ sở Điều ước quốc tế về đầu tư; tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước cụ thể liên quan đến hoạt động đầu tư phát sinh trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận hay luật quốc gia của nước tiếp nhận đầu tư; tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến giải thích, thực hiện các Điều ước quốc tế về đầu tư...
Thứ nhất, ta tìm hiểu về kinh nghiệm của quốc gia Pêru
1. Điều ước quốc tế Pêru tham gia ký kết
Đến tháng 05/2018, Pêru có khoảng 58 điều ước quốc tế về đầu tư, đã tham gia 13 vụ ISDS và chỉ mới có 02 vụ có phán quyết, theo đó phần thắng nghiêng về nhà đầu tư nước ngoài.
Việc sử dụng hiệu quả hệ thông phòng ngừa nêu trên đã giúp Pêru một mặt sàng lọc những vụ kiện mà có cơ sở thắng kiện, các vụ bất lợi cho phía Nhà nước để dàn xếp hòa giải ngoài tố tụng.
2. Hệ thống phản ứng của Pêru
Cho đến nay, Pêru là quốc gia xây dựng được một hệ thống phòng ngừa tranh chấp giữa Nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài và tham gia vụ việc ISDS rất hiệu quả.
Hệ thống này được xây dựng năm 2006 với tên gọi Hệ thống phối hợp và phản ứng cấp quốc gia về tranh chấp đầu tư quốc tế (sau đây gọi là Hệ thông phản ứng).
- Với cơ sở pháp lý để hình thành hệ thống phòng ngừa tranh chấp giữa Nhà nước Pêru với nhà đầu tư nước ngoài gồm Luật số 28933 tháng 12/2006, Nghị định số 125-2008-EF tháng 10/2008 hướng dẫn thi hành Luật số 28933 quy định về minh bạch hóa và các quy tắc bắt buộc về các điều khoản liên quan đến ISDS và Nghị định số 002-2008-EF tháng 01/2009 quy định quy trình thuê luật sư, công ty luật và các tư vấn khác để hỗ trợ tham gia ISDS.
Hệ thống phản ứng không chỉ tạo ra một cơ cấu thể chế ổn định để biện hộ cho Nhà nước trong các vụ việc ISDS, mà còn tạo ra cơ chế phối hợp và tham vấn cho tất cả các cơ quan nhà nước có liên quan. Hệ thống này bắt buộc cơ quan nhà nước có liên quan đến tranh chấp đầu tư phải hợp tác với cơ quan đầu mốỉ, cung cấp tất cả các thông tin và do đó, ràng buộc tính chịu trách nhiệm ỏ tất cả các cấp chính quyền khi có biện pháp hoặc chính sách vi phạm các hiệp định đầu tư.
Theo đó, Bộ Kinh tế và Tài chính, cơ quan chịu trách nhiệm về chính sách đầu tư quốc tế được chỉ định làm cơ quan đầu mốỉ và đứng đầu ủy ban đặc biệt; Bộ Ngoại giao là cơ quan đại diện cho Pêru ỏ giai đoạn đầu trong các vụ ISDS, cung cấp kinh nghiệm và lịch sử về quản lý các vụ tranh chấp đầu tư và đàm phán hiệp định đầu tư; Bộ Tư pháp cung cấp chuyên môn tranh tụng, đại diện pháp lý và áp dụng pháp luật; Bộ Thương mại và Du lịch cung cấp lịch sử đàm phán và kinh nghiệm đàm phán các FTA. Hệ thống phản ứng của Pêru còn yêu cầu thường xuyên đào tạo cán bộ liên quan tại các cấp chính quyền về nội dung các điều ước quốc tế về đầu tư.
3. Điều ước quốc tế về đầu tư Trung Quốc tham gia và tình hình phòng ngừa tranh chấp
Cho đến tháng 05/2018, Trung Quốc có khoảng 150 điều ưốc quốc tế về đầu tư, trong đó phần lớn được ký vào thập niên 80- 90 của thế kỷ XX.
Tính đến nay, Trung Quốc mới là bị đơn của 03 vụ ISDS tại trọng tài ICSID (01 vụ nhà đầu tư Cộng hòa Liên bang Đức khởi kiện năm 2017, 01 vụ nhà đầu tư Hàn Quốc khồi kiện năm 2014 và 01 vụ do nhà đầu tư Malaixia khởi kiện năm 2011).
4. Bàn luận về phòng ngừa tranh chấp đầu tư của Trung Quốc
Với kết quả nêu ở mực trên, có thể thấy, Trung Quốc đã thành công trong phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước.
Tuy nhiên, Trung Quốc khác với Hàn Quốc và Pêru, Trung Quốc không có hệ thống cơ quan và thể chế về phòng ngừa tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước mà việc hạn chế loại tranh chấp này thông qua quy định pháp luật, các cam kết về đầu tư mang tính riêng biệt của Trung Quốc.
Mặc dù theo Luật Tố tụng hành chính năm 1989 và các điều ước về đầu tư của Trung Quốc, nhà đầu tư nước ngoài có thể khởi kiện Nhà nước Trung Quốc về vụ việc ISDS ra tòa án của nước này hoặc trọng tài quốc tế.
Tuy nhiên, theo các điều ước quốc tế về đầu tư của Trung Quốc, việc bảo hộ đầu tư tiếp cận như cách của châu Âu với việc chỉ cung cấp bảo hộ đầu tư trong giai đoạn sau thành lập dự án đầu tư và dựa vào ngôn ngữ điều ước mơ hồ và mở.
Ví dụ: nhà đầu tư nước ngoài chỉ được bảo hộ theo nguyên tắc MFN. Do đó, phạm vi ISDS theo các điều ước quốc tế về đầu tư của Trung Quốc rất hạn chế, thường là chỉ liên quan đến tước đoạt sở hữu của nhà đầu tư. Trong thời gian gần đây, một số ít các điều ước quốc tế về đầu tư mà Trung Quốc mới ký đã cung cấp mức độ bảo hộ đầu tư cao hơn với tiêu chuẩn về đối xử công bằng và thỏa đáng, MFN, NT và tự do chuyển tiền, thu nhập hợp pháp ra nưốc ngoài.
Theo đó, ISDS có thể được thực hiện tại cơ quan giải quyết tranh chấp của nưóc nhận đầu tư (tòa án, trọng tài) hoặc trọng tài quốc tế theo cơ chế ICSID hoặc Quy tắc trọng tài của UNCITRAL.
Mặc dù vậy, Trung Quốc lại lựa chọn bảo hộ đầu tư nước ngoài theo hướng sau: (i) Điều ước quốc tế về đầu tư hiện tại có thể tiếp tục tồn tại song song với các cam kết mới bổ sung nhưng ít chính thức; (ii) Thực hiện một quy trình có hệ thông để thương lượng lại và thay thế BIT cũ và (iii) sử dụng những cách thức ít chính thức hơn để cung cấp một mức độ bảo hộ đầu tư vừa phải. Với các tiếp cận này, Trung Quốc sẽ tiếp tục hạn chế được việc phải tham gia ISDS.
5. Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO
Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947). WTO được coi như một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuỗi thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thoả thuận, danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại của các quốc gia thành viên.
WTO với các mục tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại trên toàn cầu, nâng cao mức sống của người dân các nước thành viên và giải quyết các bất đồng về lợi ích giữa các quốc gia trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa biên, sự vận hành của WTO đã và sẽ có tác động to lớn đối với tương lai lâu dài của kinh tế thế giới cũng như kinh tế của từng quốc gia. Theo tính toán, có tới trên 95% hoạt động thương mại trên thế giới hiện nay được điều chỉnh bởi các Hiệp định của Tổ chức này.
Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức này đã được thiết lập. Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này.
Việt Nam đã là thành viên của WTO nên có thể sử dụng cơ chế này cho các tranh chấp thương mại có thể có với các thành viên WTO khác. Cơ chế này sẽ là một cứu cánh quan trọng để bảo vệ các lợi ích thương mại của chúng ta trong quan hệ thương mại quốc tế. Hiện tại, việc xem xét cơ chế giải quyết tranh chấp này cùng với hệ thống án lệ đồ sộ của nó có ý nghĩa thực tiễn to lớn không chỉ trong việc hiểu chính xác các qui định của HĐTM mà còn góp phần bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam trong quá trình thực thi HĐTM bởi HĐTM được xây dựng chủ yếu dựa trên các quy tắc thương mại quốc tế đang có hiệu lực trong WTO.
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là sự kế thừa các qui định về giải quyết tranh chấp đã từng phát huy tác dụng tích cực gần 50 năm qua trong lịch sử GATT 1947. Rút kinh nghiệm từ những bất cập trong cơ chế cũ, một số cải tiến căn bản về thủ tục đã được đưa vào cơ chế mới, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao tính chất xét xử của thủ tục này cũng như tăng cường tính ràng buộc của các quyết định giải quyết tranh chấp.
Mục tiêu căn bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là nhằm “đạt được một giải pháp tích cực cho tranh chấp”, và ưu tiên những “giải pháp được các bên tranh chấp cùng chấp thuận và phù hợp với các Hiệp định liên quan” . Xét ở mức độ rộng hơn, cơ chế này nhằm cung cấp các thủ tục đa phương giải quyết tranh chấp thay thế cho các hành động đơn phương của các quốc gia thành viên vốn tồn tại nhiều nguy cơ bất công, gây trì trệ và xáo trộn sự vận hành chung của các qui tắc thương mại quốc tế.
Qua hơn một thập kỷ thực hiện, cơ chế giải quyết tranh chấp này đã tỏ rõ ưu thế của mình trong việc giải quyết có hiệu quả các tranh chấp giữa các quốc gia trong khuôn khổ WTO. Hiệu quả này đạt được chủ yếu dựa trên các qui định hết sức chặt chẽ về thủ tục được nêu tại các văn bản (nguồn) khác nhau, cơ chế thông qua quyết định mới (cơ chế đồng thuận phủ quyết), các cơ quan chuyên môn độc lập với các thời hạn cụ thể. Không phải ngẫu nhiên mà cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO được coi là một trong những thành công cơ bản của Vòng đàm phán Urugoay.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).