Tính đến thời điểm hiện tại sau hơn 2 năm kể từ ngày nhận được 300 triệu đồng, công ty ở vĩnh phúc không thể thu xếp được dự án cho công ty tôi và cũng không có 1 động thái nào liên quan đến việc công ty vĩnh phúc vẫn đang tiếp tục lo dự án, nhiều lần gọi điện thoại thì giám đốc công ty ở vĩnh phúc không nghe điện thoại cũng như từ chối gặp mặt với lý do bận. Giám đốc công ty ở vĩnh phúc hiện tại đang sinh sống ở hà nội, hợp đồng kinh tế giữa công ty tôi và công ty ở vĩnh phúc ký kết ở vĩnh phúc, việc giao số tiền 300 triệu đồng diễn ra tại hà nội. Quý công ty cho tôi hỏi một số vấn đề như sau:- tôi có thể kiện công ty ở vĩnh phúc về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?- nếu khởi kiện thì tôi sẽ tố cáo công ty ở vĩnh phúc ở cơ quan nào?
tôi xin chân thành cảm ơn và mong hồi đáp từ quý công ty trân trọng!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của  Công ty luật Minh Khuê

                                                            Dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

  >> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Căn cứ pháp lý:

>> Xem thêm:  Ms.Phạm Thị Diệu Linh - chuyên viên tư vấn pháp luật Công ty Luật TNHH Minh Khuê

Bộ luật hình sự 1999

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

II. Nội dung phân tích

- Căn cứ quy định Pháp luật hình sự quy định về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: 

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

>> Xem thêm:  Quyền công dân trong quá trình điều tra vụ án hình sự là gì ? Cơ quan điều tra có nghĩa vụ, trách nhiệm gì ?

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

>> Xem thêm:  Lỗi tai nạn giao thông chết người có bị khởi tố hoặc phải đền bù thế nào ?

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự
- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.
b) Dấu hiệu khác
Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
2. Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
3. Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Theo như bạn trình bày, Tháng 4/2014 công ty bạn và 1 công ty có trụ sở tại vĩnh phúc có ký kết 1 hợp đồng kinh tế với nội dung: công ty ở vĩnh phúc sẽ lo tìm việc cho công ty bạn cụ thể là liên quan đến 1 dự án ở tỉnh yên bái, theo điều khoản hợp đồng công ty ở vĩnh phúc sẽ làm tất cả các thủ tục như lập phương án, đầu thầu. Công ty bạn phải trả cho công ty ở vĩnh phúc nếu công ty tôi được thực hiện dự án là 1,3 tỷ đồng.  Ngay khi ký kết hợp đồng xong công ty ở vĩnh phúc đã nhận của công ty bạn 300 triệu đồng. Cho đến nay, sau 2 năm mà công ty bạn vẫn chưa được thực hiện một dự án do công ty Vĩnh Phúc giới thiệu và công ty bạn đã tìm cách liên lạc với công ty Vĩnh Phúc nhưng giám đốc công ty không nghe máy, từ chối gặp mặt. Để khẳng định công ty Vĩnh Phúc có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không phải xét đến hành vi chiếm đoạt số tiền 300 triệu đồng phát sinh từ thời điểm nào. Nếu giám đốc công ty Vĩnh Phúc có ý định chiếm đoạt tài sản của Công ty bạn trước khi giao kết hợp đồng, tức là nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa 2 bên nhằm mục đích chiếm đoạt tiền thì sẽ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nhưng nếu hành vi  dùng thủ đoạn gian dối xuất phát sau khi đã có được số tiền 300 triệu đồng thì sẽ không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà sẽ có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, trường hợp này bạn có thể gửi đơn trình báo tới cơ quan công an về vụ việc nói trên và cung cấp những thông tin cần thiết để cơ quan công an nơi Công ty tại Vĩnh Phúc có trụ sở để xác định hành vi của giám đốc công ty tại Vĩnh Phúc. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh nào phải chờ kết luận của cơ quan điều tra. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật Hình sự.

>> Xem thêm:  Mua điện thoại không trả hết tiền bị xử lý như thế nào?

 

>> Xem thêm:  Phát tán ảnh và video "Nóng" của người khác có bị truy tố không ?