1. Khái niệm hồ sơ vụ án dân sự

Trước hết, vụ án dân sự là việc có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự mà họ không thể thương lượng được nên nhờ Tòa án giải quyết.

Hồ sơ vụ án dân sự là tập hợp các giấy tờ, tài liệu do Toà án thu thập hoặc soạn thảo trong quá trình thụ lí một vụ án dân sự và cần thiết cho việc giải quyết vụ án đó.

Thực tiễn xét xử thường phân biệt các thành phần của hồ sơ theo cách như sau: các ghi chép về lai lịch của vụ án, cho phép phân biệt vụ án này với vụ án khác như ngày thụ lÍ, số thụ lí, lai lịch của cáo bên, của người đại diện, người có quyền và lợi ích liên quan (nếu có), loại vụ việc, Thẩm phán phụ tách vụ việc;... các giấy tờ liên quan đến thủ tục giải quyết vụ án: quyết định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định trưng cầu giám định, các ý kiến, thư từ giao dịch; giấy triệu tập, giấy ủy quyền:.. các giấy tờ, tài liệu liên quan đến nội dung của vụ án: đơn kiện, tường trình, tài liệu chứng minh, piên bản giám định,... các biên bản lấy lời khai, biên pản hoà giải; các ghi chép về diễn biến của các phiên toà; bản án, quyết định của Toà án.

2. Kỹ năng chung khi nghiên cứu hồ sơ vụ án

– Nghiên cứu lời khai của bị đơn

Việc nghiên cứu lời khai của bị đơn cũng được tiến hành theo thứ tự thời gian. Sau khi nghiên cứu hết lời khai bị đơn này mới chuyển qua nghiên cứu lời khai bị đơn khác.

Khi nghiên cứu lời khai của bị đơn, vừa phải chú ý các điểm bị đơn thống nhất với nguyên đơn, đồng thời phải nắm được các điểm bị đơn khai khác nguyên đơn; các điểm bị đơn khai trước và sau mâu thuẫn nhau, những yêu cầu nào của nguyên đơn không được bị đơn chấp nhận và bị đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ về vấn đề đó chưa? từ đó rút ra được kết luận có cần lấy lời khai tiếp của bị đơn hay nguyên đơn để làm rõ các điểm mâu thuẫn không? có cần hướng dẫn bị đơn cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ không? Có cần đối chất giữa nguyên đơn và bị đơn không? Hay đó là các điểm thứ yếu, chỉ cần ra phiên tòa tập trung làm rõ là đủ và dự liệu cả phương pháp, cách thức làm rõ tại phiên tòa về vấn đề này.

Sau khi nghiên cứu hết lời khai bị đơn, nghiên cứu tiếp lời khai, tài liệu của các đương sự khác.

Nghiên cứu lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (nếu có)

Khi nghiên cứu lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cần nắm được yêu cầu của họ như thế nào? yêu cầu đó có phù hợp pháp luật hay không?

Nếu các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) có người đại diện tham gia tố tụng, phải nghiên cứu lời khai của người đại diện và lời khai của người đại diện của đương sự nào thì xếp vào tập lời khai của đương sự đó. Về lời trình bày, khai báo của người đại diện của đương sự nào được xác định chính là lời khai của đương sự đó.

– Nghiên cứu lời khai của nhân chứng, các biên bản đối chất

Khi nghiên cứu lời khai của nhân chứng vừa chú ý về độ tuổi, năng lực, nhận thức, độ chính xác của thông tin, mối quan hệ của nhân chứng với đương sự trong vụ án, vừa chú ý các điểm nhân chứng khai thống nhất với nguyên đơn hoặc bị đơn… và những điểm khai khác hoặc khai mâu thuẫn với các đương sự.

Phải chú ý tìm hiểu nhân chứng biết được các tình tiết, sự kiện, nội dung của vụ án trong hoàn cảnh nào? (trực tiếp chứng kiến, nghe đương sự nào đó nói lại, nghe theo lời kể của người khác…).

Sau khi nghiên cứu lời khai của đương sự và nhân chứng, nhận thấy có điểm chưa rõ hoặc mâu thuẫn phải rút ra có cần tiến hành lấy lời khai tiếp không? Có cần đối chất không? Nội dung cần đối chất? và các đối tượng cần đối chất với nhau.

Nếu hồ sơ đã có biên bản đối chất, cần nghiên cứu kỹ các biên bản đối chất và đối chiếu với lời khai của các đương sự, nhân chứng có trong hồ sơ với nội dung các biên bản đối chất để từ đó rút ra được việc đối chất đó đã đúng, đã đủ chưa? Có cần đối chất thêm vấn đề gì?… Khi đối chất cần nêu rõ các điểm mâu thuẫn nhau, yêu cầu họ trình bày, lý giải, chứng minh về các vấn đề đang có mâu thuẫn và giải quyết vướng mắc (do lời khai mâu thuẫn nhau, mâu thuẫn tài liệu khác).

Nghiên cứu lời khai, tài liệu mà không rút ra được các vấn đề cần xử lý tiếp một cách đúng đắn thì cũng không phải là việc nghiên cứu đã tốt, đã đạt yêu cầu.

– Nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ khác

Tùy theo từng loại việc tranh chấp, các đương sự sẽ cung cấp cho Tòa án những tài liệu tương ứng. Thẩm phán phải nghiên cứu kỹ các tài liệu này, từ đó tùy theo yêu cầu của nguyên đơn, sự thừa nhận hay phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Thẩm phán phải tập trung nghiên cứu các điểm đó.

Đối với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập từ bất cứ nguồn nào, nếu qua nghiên cứu thấy việc thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan thì đều phải nghiên cứu kỹ nội dung các tài liệu, chứng cứ đó, xác minh tính đúng đắn của chứng cứ thì mới giúp cho Thẩm phán đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện sau khi đã nghiên cứu xong toàn bộ hồ sơ vụ án.

Những vụ có ý kiến của chính quyền cơ sở, đoàn thể, cơ quan, ban ngành mà các ý kiến có sự khác nhau, Thẩm phán cũng phải nghiên cứu hết, không được bỏ qua ý kiến nào. Sau khi nghiên cứu phải rút ra được có cần hỏi lại, lấy lại ý kiến của chính quyền cơ sở, đoàn thể nào không? Có cần lấy ý kiến của cả tập thể… không?

Thông thường việc nghiên cứu hồ sơ theo tuần tự như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, tùy theo diễn biến cụ thể mà có vụ khi đang nghiên cứu lời khai nguyên đơn có thể đối chiếu ngay với lời khai của bị đơn, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản đối chất hoặc các tài liệu khác như bản kết luận giám định, biên bản định giá .v.v…

Trong thực tiễn cho thấy đối với những vụ án phức tạp, hồ sơ dày, việc nghiên cứu tuần tự, hết lời khai nguyên đơn, hết lời khai đương sự này mới chuyển qua nghiên cứu lời khai của đương sự khác là một phương pháp hiệu quả để đánh giá và soi xét tường tận.

3. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

+ Là loại trách nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc hợp đồng mà chỉ cần tồn tại một hành vi vi phạm pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành vi này cũng không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.

+ Thiệt hại không chỉ là nền tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

4. Căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trường hợp bên bị vi phạm được quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường những thiệt hại xảy ra không phải do vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng. Theo Bộ luật dân sự 2015, điều kiện xảy ra bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là:

– Có thiệt hại thực tế xảy ra (thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp)

– Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật (xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác)

– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

Ngoài ra, khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần quan tâm đến yếu tố lỗi các bên. Lỗi của người vi phạm là là một trong những điều kiện có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt thiệt hại chứ không phải là yếu tố bắt buộc. Theo Bộ luật dân sự 2015:

“Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

Như vậy, trong một số trường hợp người chịu trách nhiệm bồi thường phải bồi thường thiệt hại xảy ra không phải do lỗi của mình, ví dụ trong một số trường hợp phải bồi thường thiệt hại do súc vật hoặc cây cối gây ra.

5. Nghiên cứu hồ sơ vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng so với các loại tranh chấp khác tỷ lệ vụ việc phải thụ lý, giải quyết tại các Tòa án không nhiều, phần lốn là yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, tài sản, một số ít vụ yêu cầu bồi thường về danh dự, V.V.. Loại việc này có những nét đặc thù cần phải chú ý trong quá trình nghiên cứu, đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ xuất hiện khi sự việc đó thỏa mãn cả bôn yếu tố sau: có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra, ngưòi gây thiệt hại có lỗi, có mối qụan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật. Do đó, khi nghiên cứu hồ sơ Thẩm phán phải nghiên cứu kỹ các tài liệu nhằm nắm bắt các tình tiết, các sự kiện và phải trả lòi được câu hỏi có hành vi trái pháp lưật xảy ra hay không? Tùy theo vụ việc cụ thể đối chiếu với hành vi đã diễn ra với quy định của pháp luật để xác định. Ví dụ, có hành vi lấi xe máy va vào một người đi đường, làm người này bị thương, phải nghiên cứu người lái xe máy có đi đúng phần đường của mình không? Tốc độ có vượt quá quy định không? Có thuộc trường hợp phải nhường đưòng cho người đi bộ không?... đôì vối người đi bộ bị xe máy va quệt cũng phải xem xét hành vi của họ vói quy định của luật giao thông, để xác định hành vi của họ có trái pháp luật không? Nếu hành vi của người đi bộ vi phạm luật giao thông là nguyên nhân gây ra va chạm, còn ngưòi điểu khiển xe máy chấp hành đúng luật giao thông thì họ không bị coi là có lỗi, hành vi của họ không bị coi là trái pháp luật.

Phải nghiên cứu các tài liệu về thiệt hại xảy ra để biết được có thiệt hại thực tế hay chỉ là dàn dựng. Thiệt hại cần tìm hiểu bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại phi vật chất (các tổn hại về tinh thần, danh dự...).

Đốỉ vối thiệt hại vật chất, Thẩm phán phải xem xét, nghiên cứu rất cụ thể. Ví dụ những chi phí khi điều trị phải có hóa đơn, chứng từ do bác sỹ kê đơn, các chi phí khi nằm viện do bệnh viện thu cũng phải có hóa đơn chứng từ; nếu tự mua thuốc bổ, mua các loại cao, thuốc đặc biệt đắt tiền không phải do bác sỹ yêu cầu mua điều trị thì dù có hóa đơn, chứng từ cũng không được coi đó là các chi phí hợp lý, là thiệt hại.

Đối với thu nhập bị mất, bị giảm sút thì phải nghiên cứu các tài liệu thể hiện thu nhập của họ trước khi bị gây thiệt hại, sau khi bị gây thiệt hại có thời gian phải nằm điều trị, không lao động được, hoặc khi đi lao động được phải làm công việc khác phù hợp sức khỏe, thu nhập bị giảm, những khoản chênh lệch, khoản thu nhập bị mất đó là thiệt hại. Nếu thu nhập trước đây của họ không thưòng xuyên thì phải nghiên cứu các tài liệu thể hiện thu nhập trung bình ỏ địa phương, V.V..

Đối với các vụ việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồhg Thẩm phán phải nghiên cứu kỹ các tài liệu thể hiện lỗi, mức độ lỗi của mỗi bên. Nếu hồ sơ chưa thể hiện rõ, Thẩm phán phải có phương án thu thập, xác minh thêm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Cùng với việc nghiên cứu các tài liệu để xác định lỗi, phải nghiên cứu các tài liệu để tìm hiểu môì liên hệ giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả thiệt hại xảy ra. Nếu có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra thực, nhưng giữa hai sự kiện đó (hành vi trái pháp luật, thiệt hại xảy ra) không có mối liên hệ nội tại nào thì cũng không phát sinh trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại. Do đó, khi nghiên cứu hồ sơ không chỉ tìm hiểu những tình tiết qua các biểu hiện bên ngoài của sự việc đó, mà phải nghiên cứu kỹ các tình tiết, sự kiện để tìm ra mối liên hệ bên trong của các hành vi, tình tiết, sự kiện đã diễn rạ.