- 1. Khái quát pháp luật lao động về lao động chưa thành niên
- 2. Thế nào là lao động chưa thành niên?
- 2.1. Quy định về lao động chưa thành niên
- 2.2. Bình luận quy định về lao động chưa thành niên
- 3. Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
- 3.1. Quy định về nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
- 3.2. Bình luận quy định về nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162
Trả lời:
1. Khái quát pháp luật lao động về lao động chưa thành niên
Dưới góc độ điều chỉnh pháp luật, mọi người lao động, không phân biệt về chúng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, tuổi tác, khuyết tật, tôn giáo, tín ngưỡng, chính kiến, đều có cơ hội như nhau trong thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động. Tuy nhiên, trong thực tế, một số lao động như lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, sao có những đặc điểm riêng về tâm sinh lý, sức khỏe; một số lao động như người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, lao động cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam do có những đặc điểm riêng của lao động ghi chú về nơi làm việc; một số lao động như lao động giúp việc gia đình, người lao động làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao, hàng không.... Do có những đặc điểm riêng về môi trường làm việc, nên đòi hỏi nhà nước trong quá trình xây dựng pháp luật phải có những quy định phù hợp với đặc điểm riêng của những lao động này. Từ đó không chỉ bảo đảm quyền lao động của họ mà còn tạo điều kiện cho họ khi tham gia quan hệ lao động được bảo đảm quyền và lợi ích phù hợp.
Quan điểm chung của pháp luật quốc tế và các quốc gia hiện nay là đều bảo vệ lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật người lao động cao tuổi. ILO đã có số lượng gần như nhiều nhất các Công ước và Khuyến nghị về các tiêu chuẩn lao động đối với lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, ở các quốc gia, để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và quan điểm của mình, đều có những quy định riêng cụ thể đối với những lao động này trong bộ luật lao động luật luật tiêu chuẩn lao động, luật việc làm.
Pháp luật lao động Việt Nam, ngay từ khi ra đời, đã có các quy định riêng đối với lao động chưa thành niên, lao động là người tàn tật hiện nay gọi lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, lao động cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam....
Trải qua các giai đoạn lịch sử, những quy định về lao động này luôn được sửa đổi, bổ sung để ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với thực tế và nhu cầu của các bên trong quan hệ lao động.
Trên cơ sở kế thừa hầu hết các quy định trong Bộ luật lao động cũ năm 2012, chương XI "những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên là một số lao động khác" của bộ luật lao động năm 2019 được thiết kế gồm 25 điều. Trong đó để cập các vấn đề pháp lý đối với lao động chưa thành niên; người lao động cao tuổi; người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, lao động cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; lao động là người khuyết tật; lao động là người giúp việc gia đình, và một số lao động khác.
2. Thế nào là lao động chưa thành niên?
2.1. Quy định về lao động chưa thành niên
Điều 143 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về lao động chưa thành niên như sau:
1. Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi.
2. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được làm công việc hoặc làm việc ở nơi làm việc quy định tại Điều 147 của Bộ luật này.
3. Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
4. Người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này.
2.2. Bình luận quy định về lao động chưa thành niên
Với mục đích bảo vệ lao động chưa thành niên khi tham gia quan hệ lao động, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện về học nghề, việc làm, thu nhập, sức khỏe cũng như phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, ngoài các quy định chung, các bộ luật trước đây cũng như bộ luật lao động năm 2019, đã có quy định riêng đối với lao động này. Việc sử dụng thuật ngữ lao động chưa thành niên và đưa ra khái niệm lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi trong Điều 143 bộ luật lao động năm 2019 được đánh giá là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về xác định tuổi, năng lực chủ thể và trách nhiệm chủ thể.
Ngoài ra, quy định lao động chưa thành niên gồm ba nhóm theo độ tuổi: lao động từ đủ mười lăm tuổi đến dưới 18 tuổi, lao động từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi và lao động dưới 13 tuổi, để từ đó xác định phạm vi tham gia công việc, điều kiện lao động, phương hướng bảo vệ người lao động chưa thành niên trong quan hệ lao động là hợp lý. Các nội dung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, đặc biệt là quy định về 03 danh mục công việc và nơi làm việc cấm làm, được làm và cho phép tương ứng với 03 nhóm lao động chưa thành niên dựa vào độ tuổi, nhìn chung là phù hợp với các Công ước của ILO và pháp luật các quốc gia trên thế giới.
3. Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
3.1. Quy định về nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
Điều 144 BLLĐ năm 2019 quy định về nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên như sau:
1. Lao động chưa thành niên chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách.
2. Người sử dụng lao động khi sử dụng lao động chưa thành niên có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động về các mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động.
3. Khi sử dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ; lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
4. Người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để lao động chưa thành niên được học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
3.2. Bình luận quy định về nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
Do chưa phát triển đầy đủ về sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần nên đang động chưa thành niên rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vật lý, hóa học có tính chất nguy hiểm, độc hại trong quá trình lao động. Ngoài ra, ở độ tuổi này, lao động chưa thành niên còn thiếu kinh nghiệm phòng tránh tác hại và các rui ro trong quá trình thực hiện nghĩa vụ lao động nên dễ bị ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe và nhân cách. Vì vậy, theo tinh thần quy định trong Điều 144, người sử dụng lao động phải quan tâm tới 03 vấn đề mà người lao động chưa thành niên dễ bị tổn thương hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực trong quá trình trong quá trình lao động là: thể lực, trí lực và nhân cách.
Theo đó, khi sử dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, khả năng của họ, nghiêm cấm sử dụng lao động chưa thành niên làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc bố trí chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ. Ví dụ: các công việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh chất cồn, rượu, bia, thuốc lá hoặc các loại chất gây nghiện. Bởi lao động chưa thành niên là người trẻ tuổi, rất dễ sa đà và bị cám dỗ bởi các thứ gây nghiện đó, đồng thời do còn trẻ tuổi chưa có kinh nghiệm sống, không hiểu biết xã hội nên họ cũng dễ đua đòi hoặc học theo thói ăn chơi khi có điều kiện và cơ hội.
Vì lao động chưa thành niên vẫn còn trong độ tuổi đi học, chưa hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông, do đó cần tiếp tục trau dồi thêm kiến thức cho tương lai và nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc. Pháp luật quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động về các mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động. Cùng với việc bảo đảm các quyền lợi như người lao động thành niên, người sử dụng lao động còn phải bảo đảm để lao động chưa thành niên học văn hóa, học nghề nâng cao trình độ. Điều đó đồng nghĩa với việc người sử dụng lao động không được tìm cách cản trở hoặc có hành động khác làm ảnh hưởng đến quyền lao động, học tập và các quyền khác theo quy định của pháp luật về trẻ em, pháp luật về giáo dục, đào tạo nghề, của lao động chưa thành niên.
Khi sử dụng lao động chưa thành niên, điều kiện bắt buộc là phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ của lao động chưa thành niên. Việc đồng ý của cha, mẹ người giám hộ của lao động chưa thành niên nhằm bảo đảm cho lao động chưa thành niên thực hiện nghĩa vụ lao động và nghĩa vụ bồi thường trong trường hợp lao động chưa thành niên vi phạm quy định của người sử dụng lao động và làm thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động.
Bên cạnh đó, người sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng phải ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. Việc theo dõi này sẽ tạo điều kiện cho người sử dụng lao động nắm bắt chính xác, đầy đủ thông tin về lao động chưa thành niên để có biện pháp bảo đảm và hỗ trợ cho phù hợp. Đây là vấn đề mang tính bắt buộc, nếu không thực hiện nghiêm túc và vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính đối với vi phạm về lập sổ theo dõi lao động chưa thành niên như sau:
"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi không lập sổ theo dõi riêng hoặc có lập sổ theo dõi riêng nhưng không ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 162 Bộ luật Lao động khi sử dụng lao động chưa thành niên hoặc không xuất trình sổ theo dõi khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu."
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác. Trân trọng./.