1. Khái niệm lao động công ích

Lao động công ích là lao động để thực hiện những công việc vì lợi ích của cộng đồng, không đòi hỏi sự trả công, bao gồm nghĩa vụ lao động hàng năm và nghĩa vụ lao động trong trường hợp xảy ra thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh.

Lao động công ích là hình thức lao động được thể hiện dưới những công việc vì lợi ích của cộng đồng, không đòi hỏi sự trả công, bao gồm nghĩa vụ lao động hàng năm và nghĩa vụ lao động trong trường hợp xảy ra thiên tai, hỏa hoạn hay dịch bệnh.

Theo pháp luật hiện hành, lao động công ích là nghĩa vụ của mỗi công dân, theo đó, công dân Việt Nam, nam từ đủ 18 tuổi đến 45 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến 35 tuổi phải thực hiện nghĩa vụ lao động công ích, mỗi năm 10 ngày. Nếu người có nghĩa vụ lao động công ích không thể trực tiếp tham gia thì có thể đóng góp một khoản tiền nhất định theo quy định vào công quỹ. Những người trong diện phải thực hiện nghĩa vụ lao động công ích có thể được miễn thực hiện trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật.

Đồng thời những người có nghĩa vụ này vẫn có thể được miễn thực hiện trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật.

Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để công dân tham gia lao động công ích.

2. Những người được miễn lao động công ích

Những đối tượng được miễn lao động công ích, có thể kể đến như:

– Cán bộ, chiến sĩ thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân.

– Công nhân, công chức quốc phòng và công nhân, công chức công an nhân dân làm việc ở xã biên giới, huyện biên giới, vùng sâu, hải đảo; ở các xã, huyện, tỉnh được công nhận là miền núi, vùng cao; công nhân, công chức quốc phòng thuộc các đội sửa chữa lưu động chuyên nghiệp.

– Quân nhân xuất ngũ đang đăng ký ở ngạch dự bị hạng một.

– Thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh.

– Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, người có công nuôi liệt sĩ.

– Người giữ chức sắc tôn giáo chuyên nghiệp theo quy định của Ban Tôn giáo của Chính phủ.

– Người mắc bệnh tâm thần, động kinh hoặc có nhược điểm về thể chất được bác sĩ chuyên khoa của bệnh viện huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), bệnh viện tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), bệnh viện trung ương hoặc bệnh viện ngành kết luận không có khả năng lao động.

– Người bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên. Như vậy, ông vẫn phải thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm tại địa phương cho đến khi hết 45 tuổi.

3. Các trường hợp tạm miễn lao động công ích

Những người thuộc diện thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm nhưng tại thời điểm huy động thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được tạm miễn thực hiện :

1- Người đang điều trị, điều dưỡng; người duy nhất trong gia đình đang trực tiếp chăm sóc thân nhân bị ốm nặng;

2- Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của quân nhân tại ngũ có hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đâu gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) chứng nhận;

3- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng;

4- Người chồng mà vợ chết hoặc đã ly hôn đang trực tiếp nuôi con nhỏ dưới 36 tháng;

5- Người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc phục vụ thương binh nặng, bệnh binh nặng, người tàn tật bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

6- Người thuộc lực lượng nòng cốt của dân quân tự vệ;

7- Cán bộ, công chức nhà nước được điều động đến làm việc có thời hạn ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo;

8- Thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện đang làm nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao;

9- Người là lao động duy nhất trong gia đình đang trực tiếp nuôi người khác không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

10- Người trong hộ gia đình được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận thuộc diện hộ đói theo chuẩn mực do Chính phủ quy định;

11- Trưởng, phó công an xã, công an viên; trưởng thôn, xóm hoặc tương đương;

12- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, thực tập sinh, sinh viên, học sinh học tập trung dài hạn tại các trường đại học, học viện, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trường đào tạo của các tôn giáo; học sinh phổ thông; người đang dạy và người đang học để xoá mù chữ;

13- Người đang công tác, học tập, lao động ở nước ngoài.

4. Thẩm quyền huy động lao động công ích

Việc huy động công dân thực hiện nghĩa vụ lao động công ích do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết điịnh theo kế hoạch, đùng mục đích, bảo đảm công bằng, tiết kiệm và đạt hiệu quả thiết thực.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bằng văn bản để huy động công dân thực hiện nghĩa vụ lao động công ích. Trong trường hợp cấp thiết khi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, người có thẩm quyền được huy động trực tiế bằng lời nói, nhưng chậm nhất sau 24 giờ, kể từ khi huy động phải có quyết định huy động bằng văn bản.

Thẩm quyền quyết định huy động nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết được quy định như sau:

1- Thủ tướng Chính phủ quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết đặc biệt nghiêm trọng xảy ra có ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội hoặc tác động nguy hiểm đến môi trường sinh thái thuộc phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc trong một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp tỉnh;

2- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, hoặc trong một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp huyện;

3- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi nhiều xã, phường, thị trấn, hoặc trong một xã, phường, thị trấn, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp xã;

4- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi xã, phường, thị trấn.

Trong trường hợp không tự giải quyết được thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải báo cáo ngay với cấp trên trực tiếp giải quyết.

5. Chế độ với người lao động công ích

- Người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích cách xa nơi cư trú, nếu không có điều kiện đi, về hàng ngày, thì đơn vị sử dụng (đối với lao động công ích hằng năm) hoặc cơ quan quyết định huy động (đối với trường hợp cấp thiết) bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ việc đi lại hoặc thanh toán tiền tàu xe một lần đi, về.

- Người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết được bồi dưỡng. Mức bồi dưỡng một ngày làm việc bằng tiền lương một ngày của mức lương tối thiểu chung. Trường hợp làm việc vào ban đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ sáng) được bồi dưỡng gấp đôi. Nếu làm việc ở nơi có yếu tố độc hại, nguy hiểm thì được trang bị các phương tiện bảo hộ lao động và được bồi dưỡng như đối với người lao động làm việc cùng môi trường thuộc khu vực sản xuất, kinh doanh.

Các chế độ bồi dưỡng được tính theo số giờ thực tế làm việc hàng ngày. Làm việc từ 2 giờ đến 4 giờ được tính nửa ngày, làm việc từ trên 4 giờ đến 8 giờ được tính cả ngày; trường hợp phải làm thêm giờ thì số giờ làm thêm được tính gấp đôi.

Ngoài chế độ bồi dưỡng quy định, người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết cách xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về hàng ngày được hỗ trợ tiền ăn. Mức hỗ trợ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra tình trạng cấp thiết quy định.

- Người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích nếu bị tai nạn lao động thì được thanh toán chi phí y tế trong quá trình sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật. Trường hợp người bị tai nạn làm suy giảm khả năng lao động thì được xét trợ cấp tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động. Nếu người bị tai nạn chết, kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu, thì người trực tiếp lo mai táng được nhận tiền mai táng; gia đình hoặc thân nhân của người đó được trợ cấp một lần.

Chính phủ quy định cụ thể chi phí y tế, tiền mai táng và các chế độ trợ cấp.

- Người bị ốm đau trong khi trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích, nếu có thẻ bảo hiểm y tế thì được cơ quan bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo quy định của Điều lệ bảo hiểm y tế; người chưa tham gia bảo hiểm y tế được hưởng quyền lợi như người có bảo hiểm y tế, trừ trường hợp ốm đau khi thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm tại công trình của xã, phường, thị trấn.

- Người dũng cảm cứu người khác, cứu tài sản của Nhà nước, của nhân dân hoặc đấu tranh chống tội phạm trong khi thực hiện nghĩa vụ lao động công ích, nếu bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên được xét hưởng chính sách như thương binh, nếu hy sinh được xét công nhận là liệt sĩ.

- Người đi lao động thay cho người có nghĩa vụ lao động công ích hằng năm có trách nhiệm và được hưởng các quyền lợi như người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích.

6. Tác động của lao động công ích

Hiện nay nhiều đề xuất của đại biểu Quốc hội cho rằng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc xử lý hành chính nên quy định về việc người vi phạm phải chịu phạt lao động công ích.

Việc áp dụng hình thức này sẽ tác động trực tiếp đến người vi phạm vì sức lao động không thể thay thế được. Đồng thời lao động công ích sẽ tác động tích cực trong việc hình thành ý thức pháp luật, qua đó người vi phạm nhận thấy được bổn phận, trách nhiệm của mình với cộng đồng và cả với những người xung quanh.

Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê