1. Lao động di trú là gì?

"Migrant worker" là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên thế giới và trong hệ thống pháp luật quốc tế để chỉ "lao động di trú" hoặc "lao động di cư". Theo đó, d"di trú" mang tính tạm thời di chuyển đến một khu vực khác để sinh sống, còn "di cư' lại mang tính dứt khoát, chuyển hẳn sang khu vực khác sinh sống. Theo Đồng thuận ASEAN 2007 sử dụng thuật ngữ "lao động di cư" để chỉ một người sẽ được tham gia, sẽ được thuê làm việc, được tham gia và được thuê làm việc trong một hoạt động được trả thù lao tại một nước mà họ không phải là người dân nước đó.

Lao động di trú có thể được hiểu là những người lao động tạm thời di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác để tìm kiếm việc làm. Họ có thể di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác trong biên giới của một quốc gia hoặc có thể di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác.

Điều 2 Công ước ICRMW xác định: "Lao động di trú là một người đã đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân". Theo cách hiểu này, lao động di trú được xác định là những người di chuyển ra ngoài lãnh thổ, đường biên giới quốc gia của họ, đi đến quốc gia mới để tìm kiếm việc làm, bởi khi người lao động sang một quốc gia khác làm việc mới phát sinh các vấn đề mà tại đó pháp luật quốc tế sẽ điều chỉnh. Khái niệm "lao động di trú được xác định tại Điều 2 Công ước ICRMW, thuật ngữ này bao gồm cả những người lao động có giấy tờ hợp pháp và người lao động bất hợp pháp. Theo luật pháp của quốc gia và các điều ước quốc tế thì khi người la động được tuyển dụng, được phép nhập cảnh, ở lại và làm các công việc được trả lương trong nước, người lao động đó được coi là lao động di trú hợp pháp. Và ngược lại, những người không đáp ứng các điều kiện này được xem là không có giấy tờ hoặc bất hợp pháp. Tuy nhiên, không phải người lao động nào khi đi làm việc ở một quốc gia khác cũng được xác định là lao động di trú. Khoản 2 Điều 2 của Công ước này xác định rõ phạm vi những đối tượng được coi là lao động di trú đồng thời quy định cụ thể những đối tượng không được coi là lao động di trú tại Điều 3.

Có thể thấy rằng, trên phương diện nghiên cứu, việc sử dụng thuật ngữ "lao động di trú" là phù hợp với hệ thống pháp luật quốc tế. Trên phương diện pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì các cụm từ "lao động xuất khẩu", "người lao động đi làm việc ở nước ngoài" hay "người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng" được sử dụng thay cho thuật ngữ "Lao động di trú". 

Căn cứ theo quy định tại Điều 3 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động 2020 thì "Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên cư trú tại VIệt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này". Đồng thời tại Điều 5 Luật này cũng đã xác định các hình thức hợp đồng đối với đi làm việc ở nước ngoài bao gồm: "Hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ký với đơn vị sự nghiệp để thực hiện thỏa thuận quốc tế"; "Hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng văn bản về việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ký với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân" và "hợp đồng do người lao động Việt Nam trực tiếp giao kết với người sử dụng lao động ở nước ngoài". Như vậy, khái niệm "người lao động đi làm việc ở nước ngoài" chỉ hướng tới những người lao động đi làm việc ở nước ngoài một cách hợp pháp, được sự cấp phép, cho phép và chịu sự quản lý của Chính phủ 2 nước. Có thể thấy rằng so với thuật ngữ "lao động di trú" thì nội hàm, khái niệm "người lao động đi làm việc ở nước ngoài" hẹp hơn, chưa bao quát được toàn bộ các trường hợp trên thực tiễn.

2. Đặc điểm của lao động di trú

Lao động di trú có những đặc điểm như sau:

- Người di trú lựa chọn chuyển đến một quốc gia hoặc khu vực khác vì nhiều lý do, bao gồm mối quan hệ gia đình và theo đuổi học tập, do ảnh hưởng thiên tai dịch bệnh, áp lực nhân khẩu trong thời kỳ dân số tăng nhanh,... lao động di trú đến một quốc gia mới để tìm cơ hội việc làm, cơ hội nâng cao thu nhập, hướng tới mục đích xây dựng được một cuộc sống cho bản thân và gia đình tốt đẹp hơn hay đơn giản hơn lao động di trú được xem như là nấc thang thoát nghèo;

- Phần lớn lao động di trú là những người trẻ, trong độ tuổi lao động nhưng trình độ học vấn và tay nghề thấp, họ đi làm việc chủ yếu dựa vào sức khỏe của bản thân;

- Làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là các nước phát triển đã cho thấy lao động di trú đóng góp không nhỏ vào lợi ích chung của các quốc gia. Lao dộng di trú đóng góp ngày càng quan trọng cho nền kinh tế quốc gia nơi họ làm việc đồng thời cả đối với quốc gia gốc của họ hay đơ giản là cho chính bản thân, gia đình họ.

Đối với các quốc gia tiếp nhận lao động di trú, thì lao động di trú thường ở độ tuổi có năng suất lao động rất tốt, họ có đóng góp tịch vực trong tăng sản lượng, khối lượng tài sản cho các quốc gia tiếp nhận. Điều đó dẫn đến thực tế là các quốc gia có lao động đi làm việc ở nước ngoài đang mất đi bộ phận lao động năng xuất nhất trong lực lượng lao động của quốc gia mình. Tuy nhiên nhìn trên khía cạnh khác thì lao động di trú có những đóng góp đáng kể vào nền kinh tế nước nhà thông qua lương kiều hối gửi về, nguồn thu ngoại tệ.

- Lao động di trú là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. MẶc dù ở độ tuổi vàng trong lao động và sản xuất cũng như đóng góp tích cực cho nền kinh tế của cả quốc gia gốc và quốc gia tiếp nhận, tuy nhiên lao động di trú lại là nhóm đối tượng dễ bị tổn thường do họ phải rời xã quê hương, tổ quốc, xa gia đình, người thân để làm việc trên quốc gia khác, họ gặp phải những bất đồng về ngôn ngữ, về văn hóa. DO vậy, đây là những đối tượng sẽ bị bóc lột, cưỡng bức, thậm chí có thể trở thành nạn nhân của tội buôn bán người hay lạm dụng, quấy rối tình dục. Mặt khác, do lao động có trình độ học vấn thấp nên dễ bị lợi dụng, bị xâm hại, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp, họ có thể trở thành lao động di trú bất hợp pháp do những tác động bên ngoài như bị bên môi giới, chủ sử dụng lao động lừa gạt, mất giấy tờ tùy thân, giấy phép người nước ngoài.... mà họ không biết hoặc không thể tiếp nhận sự giúp đỡ của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền.

3. Phân loại lao động di trú

Dựa trên định nghĩa cũng như đặc điểm của lao động di trú có thẻ phân loại lao động di trú theo nhiều tiêu chí khác nhau như: về quốc tịch, về trình độ chuyên môn, về độ tuổi, giới tính, về tính hợp pháp, thời gian lao động ở nước tiếp nhân,...

3.1. Phân loại theo tính hợp pháp

Theo Điều 5 của Công ước ICRMW, lao động di trú gồm:

"Trong Công ước này, người lao động di trú và các thành viên gia đình họ:

1. Được xem là có giấy tờ hoặc hợp pháp khi họ được phép vào, ở lại và tham gia làm một công việc được trả lương tại quốc gia và nơi có việc làm theo pháp luật quốc gia đó và theo những hiệp định quốc tế mà quốc gia đó là thành viên;

2. được xem là không có giấy tờ hoặc bất hợp pháp khi họ không tuân thủ theo những điều kiện nêu trong khoản (1) điều này.

Có thể thấy rằng theo Công ước ICRMW, lao động di trú gồm lao động di trú hợp pháp (có giấy tờ) và lao động di trú bất hợp pháp (không có giấy tờ). Đây là một cách phân loại chung cho lao động di trú, họ chỉ xác định rằng người lao động khi làm việc ở quốc gia khác có hay không có những giấy tờ hợp pháp do cả hại phía quốc gia cung cấp.

3.2. Phân loại theo quốc tịch

Phân loại theo quốc tịch: Đây là hình thức phân loại đơn giản theo đó lao động di trú được chia thành các nhóm khác nhau tương ứng với mỗi quốc tịch của họ. Việc phân loại này phụ thuộc vào cơ chế của mỗi quốc gia tiếp nhận cũng như trên cơ sở thỏa thuận với quốc gia phái cử.

3.3. Phân loại theo trình độ tay nghề

Phân loại người lao động di trú theo trình độ tay nghề. Theo hình thức này người lao động di trú được phân thành hai nhóm cơ bản đó là: lao động di trú có trình độ chuyên môn, trình độ học vấn, tay nghề cao, được đào tạo qua nhiều cấp và người lao động di trú có trình độ chuyên tay nghề thấp hoặc chưa có trình độ chuyên môn, đi tới các quốc gia khác vừa làm việc đồng thời vừa học việc, vừa làm.

Hình thức phân loại này phụ thuộc vào yêu cầu trong sự phát triển kinh tế của quốc gia tiếp nhận. Theo đó, những quốc gia phát triển có xu hướng tiếp nhận những lao động phổ thông, mặt khác các quốc gia đang phát triển như Việt Nam sẽ có nhu cầu đối với lao động di trú có trình độ chuyên môn cao, có khả năng hướng dẫn lao động trong nước, áp dụng khoa học kỹ thuật nâng cao năng suất lao động. Đây là một hình thức phân loại phụ thuộc vào chính sách phát triển của mỗi quốc gia.

3.4. Phân loại theo độ tuổi

Phân loại lao động di trú về độ tuổi cũng như giới tính. Là hình thức phân loại đem lại nhiều giá trị cho việc nghiên cứu về xu hướng của lao động di trú. Có thể chia lao động di trú thành 3 nhóm: nhóm từ 15 -24 tuổi, từ 25 đến 64 tuổi và từ 65 tuổi trở lê. Việc phân chia độ tuổi như vậy dựa v ào khả năng cũng như trình độ làm việc, cụ thể đối với độ tuổi từ 15-24 tuổi thì đây là nhóm lao động di trú có ít kinh nghiệm làm việc, đối với độ tuổi từ 65 tuổi trở lên thì đây là nhóm lao động ít sức khỏe hơn, khả năng lao động kinh tế ngắn hơn. Còn đối với độ tuổi từ 25 - 64 tuổi thì đây là nhóm đối tượng có nhiều cơ hội, điều kiện để đi làm việc ở nước ngoài hơn, chủ sử dụng lao động cũng sẽ ưu tiên nhóm đối tượng này hơn bởi những ưu điểm vượt trội hơn hai nhóm còn lại.

3.5. Phân loại theo thời gian làm việc tại quốc gia tiếp nhận

Khi đi làm việc ở nước ngoài, hình thức phân loại này sẽ chia lao động di trú thành hai nhóm chính: lao động ngắn hạn và lao động dài hạn. Việc phân chia này giúp quốc gia gốc cũng như quốc gia tiếp nhận có thể đưa ra những chính sách phù hợp để bảo vệ quyền lợi lao đọng di trú. Ví dụ, đối với la động di trú làm việc càng lâu trên một quốc gia, họ sẽ mong muốn, lựa chọn làm việc ở các quốc gia có chính sách an sinh xã hội cho lao động di trú tốt hơn, do đó để có thể gia tăng số lượng, chất lượng lao động nước ngoài thì các quốc gia tiếp nhận nên xây dựng chính sách cho lao động di trú phù hợp và đảm bảo quyền của họ khi làm việc tại đất nước mình.