1. Có được làm tròn thành 1 năm khi lẻ 11 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp?

Theo quy định tại Điều 50 của Luật Việc làm 2013, chế độ trợ cấp thất nghiệp được xác định chi tiết về mức, thời gian, và thời điểm hưởng. Đầu tiên, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng sẽ được tính dựa trên 60% của mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trong 06 tháng liền kề trước khi người lao động trở thành thất nghiệp. Tuy nhiên, số tiền này không vượt quá 05 lần mức lương cơ sở đối với những người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Đối với những người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, mức hưởng không vượt quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được tính dựa trên số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Người lao động đóng đủ từ 12 tháng đến 36 tháng sẽ được hưởng 03 tháng trợ cấp. Nếu tiếp tục đóng đủ 12 tháng nữa, họ sẽ được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, thời gian hưởng này không vượt quá 12 tháng.
Thời điểm bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật Việc làm 2013. Điều này giúp bảo đảm rằng người lao động có thời gian cần thiết để chuẩn bị hồ sơ và tìm kiếm cơ hội mới sau khi trở thành thất nghiệp.
Theo quy định tại Điều 18 của Nghị định 28/2015/NĐ-CP, quy trình hưởng trợ cấp thất nghiệp được đặc tả rõ ràng. Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét và trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 20 ngày làm việc, tính từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trong trường hợp hồ sơ gửi qua đường bưu điện, ngày nhận hồ sơ được xác định là ngày ghi trên dấu bưu điện.
Người lao động chưa tìm được việc làm trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, nếu được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm xác nhận và gửi quyết định cùng với bản chụp sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Thời điểm bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động được tính từ ngày thứ 16 làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp. Quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp được gửi đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh và người lao động để thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp và cấp thẻ bảo hiểm y tế.
Trong trường hợp người lao động không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do. Chi trả trợ cấp thất nghiệp được thực hiện bởi tổ chức bảo hiểm xã hội, trong đó, chi trả tháng đầu tiên phải hoàn thành trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Tổ chức bảo hiểm xã hội tiếp tục chi trả trợ cấp thất nghiệp cho những tháng tiếp theo trong thời hạn 05 ngày làm việc, tính từ ngày thứ 07 của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp đó, trừ trường hợp có quyết định tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ghi trong phiếu hẹn trả kết quả, nếu người lao động không đến nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định hủy quyết định sẽ được thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm việc.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc sau thời hạn trên, tổ chức bảo hiểm xã hội phải thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm về việc người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, trung tâm dịch vụ việc làm xem xét và trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được gửi đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh và người lao động để thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Trong trường hợp hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được cộng dồn để tính cho lần hưởng tiếp theo, theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 của Luật Việc làm.
Như vậy, theo những phân tích nêu trên thì thời gian để hưởng trợ cấp thất nghiệp theo chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ không được làm tròn, mà sẽ được quy đổi cứ 12 tháng sẽ tính 1 tháng hưởng trợ cấp
 

2. Xử lý thế nào đối với thời gian lẻ không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp?

Theo quy định tại Khoản 7 Điều 18 của Nghị định 28/2015/NĐ-CP, thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được xác định dựa trên số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 của Luật Việc làm. Đối với người lao động có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 36 tháng, những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được bảo lưu để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng tiếp theo khi đủ điều kiện.

Nếu áp dụng quy định này vào trường hợp của bạn, với thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 06 năm 10 tháng, bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

Đủ 36 tháng (3 năm) đóng bảo hiểm thất nghiệp: tương ứng với 03 tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Mỗi 12 tháng đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp sẽ tăng thêm 01 tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp. Do đó, với thời gian đóng bảo hiểm của bạn là 6 năm 10 tháng, bạn sẽ có thêm 03 tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp

Hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời kỳ đầu sau khi mất việc làm là một biện pháp hỗ trợ quan trọng, giúp người lao động duy trì cuộc sống hàng ngày và có thêm thời gian để tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp mới. Quy định về thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là một cơ chế linh hoạt, phản ánh sự cân nhắc đúng đắn giữa việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và duy trì tính bền vững của hệ thống bảo hiểm thất nghiệp

 

3. Khi hưởng trợ cấp thất nghiệp mà không thông báo về việc tìm kiếm việc làm với Trung tâm dịch vụ việc làm thì có được hưởng không? 

Theo quy định tại Điều 52 của Luật Việc làm 2013, trong thời gian đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động có trách nhiệm hàng tháng thông báo trực tiếp với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về việc tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên, có các trường hợp đặc biệt như khi người lao động ốm đau, thai sản, hoặc gặp tai nạn và có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; hoặc trường hợp bất khả kháng, thì người lao động được miễn khỏi nghĩa vụ này. Tuy nhiên, trong trường hợp được miễn khỏi, người lao động vẫn phải thông báo cho trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 19 của Nghị định 28/2015/NĐ-CP, nếu người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp không thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm, trung tâm dịch vụ việc làm nơi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người lao động không đến thông báo về việc tìm kiếm việc làm theo quy định, trung tâm dịch vụ việc làm sẽ trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động.
Quyết định về việc tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được trung tâm dịch vụ việc làm gửi 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để thực hiện tạm dừng chi trả trợ cấp thất nghiệp và 01 bản đến người lao động. Quyết định này sẽ được thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Do đó, anh cần chú ý và thực hiện đúng nghĩa vụ thông báo tìm kiếm việc làm để tránh tình trạng tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp.
 
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật nhanh chóng