1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988

Thời kỳ từ 1945 đến 1953, sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, hoạt động phòng ngừa, điều tra các đối tượng phản cách mạng và tội phạm  khác do các sở Cảnh sát, sở Liêm phóng ở các vùng miền thực hiện. (Sở Liêm phóng ở miền Bắc, Sở Trinh sát ở miền Trung, Quốc gia tự vệ cuộc ở miền Nam kiêm cả hoạt động điều tra vụ án hình sự). Để tăng cường đấu tranh chống các đối tượng phản cách mạng và tội phạm khác, ngày 21/02/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 23/SL hợp nhất các sở Cảnh sát và các sở Liêm phóng thành Việt Nam Công an vụ trực thuộc Bộ Nội vụ với nhiệm vụ: (1) Tìm kiếm và tập trung các tin tức và tài liệu liên can đến sự an toàn của quốc gia hoặc bề trong hoặc bề ngoài; (2) Đề nghị và thi hành các phương pháp đề phòng những hành động có thể làm rối việc trị an và mất trật tự trong nước, bất cứ sự hoạt động đó là do người Việt Nam hay ngoại quốc; (3) Điều tra về những hành động trái phép nói trên và truy tầm người can phạm để giúp Tòa án trong sự trừng trị. Đến ngày 20/7/1946, Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 131/SL quy định về tổ chức Tư pháp Công an thuộc Bộ Nội vụ, theo đó: “Tư pháp Công an có nhiệm vụ truy tầm tất cả các sự phạm pháp (đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh); sưu tập các tang chứng, bắt người phạm pháp giao cho các Tòa án xét xử trong phạm vi luật pháp ấn định”. Người chịu trách nhiệm điều tra vụ án hình sự về tội phạm xảy ra thuộc “Ủy viên Tư pháp Công an”. Cán bộ trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ điều tra, xét hỏi chỉ là người giúp việc cho Ủy viên Tư pháp Công an, kiêm luôn vai trò chấp pháp, xét  hỏi.
Thời kỳ này chưa có văn bản quy định cụ thể về địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ tố tụng) của Ủy viên Tư pháp Công an, nhưng thực tế thẩm quyền của tổ chức Tư pháp Công an là rất lớn. Người thi hành, thay mặt tổ chức Tư pháp Công an là Ủy viên Tư pháp Công an có thẩm quyền trực tiếp tổ chức thực hiện việc truy tầm tất cả sự phạm pháp, sưu tầm các tang chứng, bắt giao người phạm pháp cho các tòa án xét xử…, không cần thông qua Cơ quan kiểm sát hoặc Viện công tố thẩm định, xem xét trước. Trong hoạt động điều tra hình sự, các Ủy viên Tư pháp Công an không được độc lập, mà phải tuân thủ sự chỉ đạo của các viên chức có thẩm quyền của ngành Tòa án, còn cán bộ điều tra là người giúp việc cho Ủy viên Tư pháp Công an, kiêm vai trò chấp pháp, xét hỏi bị can.
Thời kỳ từ 1953 đến 1981, khi bộ máy Công an thành lập Cơ quan Chấp pháp (theo sắc lệnh số 141/SL ngày 16/02/1953 của Chủ tịch Hồ Chí Minh) là cơ quan chuyên trách điều tra hình sự, có nhiệm vụ điều tra, lập hồ sơ đề nghị truy tố các vụ phạm tội phản cách mạng và hình sự khác. Lúc này, trách nhiệm và quyền hạn điều tra hình sự thực chất thuộc về Cục trưởng, Trưởng ban, Trưởng phòng chấp pháp (người đại diện cho Cơ quan Chấp pháp), còn cán bộ làm nhiệm vụ trực tiếp điều tra thực tế thường được gọi là “cán bộ Chấp pháp”, nhưng chức danh “cán bộ Chấp pháp” gần như chưa được đề cập trong luật.
Thời kỳ này, cán bộ Chấp pháp làm việc với tư cách giúp việc cho Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Chấp pháp ở Bộ, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Chấp pháp ở địa phương. Địa vị pháp lý của người trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra - cán bộ Chấp pháp, chưa được quy định trong luật, nhưng thực tế là người trực tiếp thực hiện gần như tất cả các trách nhiệm và quyền hạn điều tra hình sự thuộc về Cục trưởng, Trưởng phòng chấp pháp.
Thời kỳ từ 1981 đến 1988, lực lượng Công an thành lập Cơ quan An ninh điều tra xét hỏi và Cơ quan Cảnh sát điều tra xét hỏi theo Nghị định số 250/HĐCP ngày 12/6/1981 của Hội đồng Chính phủ. Trong đó xác định, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục và Phòng An ninh điều tra xét hỏi là thụ lý điều tra xét hỏi các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, Cục và Phòng Cảnh sát điều tra xét hỏi thụ lý điều tra xét hỏi các vụ án hình sự khác. Những cán bộ làm nhiệm vụ điều tra thực tế được gọi là “cán bộ xét hỏi”, cũng là người gần như thực hiện toàn bộ các hoạt động điều tra, nhưng các quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của “cán bộ xét hỏi” cũng chưa được đề cập trong các văn bản pháp lý, pháp luật giai đoạn này chưa có quy định về chức danh tư pháp trong hoạt động điều tra.
Nói chung, trong ba giai đoạn trên, pháp luật chỉ thừa nhận thẩm quyền và nhiệm vụ điều tra tố tụng hình sự thuộc về CQĐT (Tư pháp Công an, Vụ chấp pháp ở Thứ Bộ Công an, Ban Chấp pháp ở Ty Công an tỉnh...), chưa có tên gọi có tính pháp lý đối với người làm nhiệm vụ điều tra tội phạm, mà chỉ được gọi chung là cán bộ Công an, cán bộ Chấp pháp hoặc cán bộ Xét hỏi. Hoạt động điều tra của người tiến hành hoạt động điều tra có thể do bất kỳ người nào trong cơ quan Công an hoặc cơ quan Chấp pháp mà không cần có danh nghĩa pháp lý, không cần được bồ  nhiệm. Khái niệm về nhân viên điều tra hay ĐTV chưa được đề cập trong thực tiễn và pháp luật tố tụng hình sự, các hành vi điều tra, thậm chí là các văn bản tố tụng thường do họ lập ra nhưng không được ký xác nhận. Điều này không phản ánh sự chuyên môn hoá trong hoạt động điều tra.

2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003

Trong Bộ luật TTHS đầu tiên được Quốc hội khoá VIII thông qua ngày 28/6/1988 (BLTTHS năm 1988) và Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989 lần đầu tiên đã quy định tên gọi, xác định chức danh “Điều tra viên” để chỉ người trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra trong Cơ quan điều tra.
Các điều 27, 94, 101, 102, 107, 108, 110, 113, 114, 120, 125, 126, 127, 131...BLTHS năm 1988 là cơ sở pháp lý đầu tiên xác định quyền hạn và trách nhiệm của ĐTV trong các hoạt động điều tra. Có thể khái quát địa vị pháp lý của ĐTV theo luật TTHS giai đoạn này như sau:
- ĐTV là người tiến hành tố tụng chứ không phải là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 BLTTHS năm 1988. Nhưng căn cứ Điều 94 BLTTHS năm 1988 và các điều 22, 24 Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989 thì cũng có thể cho rằng, luật TTHS giai đoạn này đang cùng một lúc thừa nhận tư cách tiến hành tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và ĐTV.
- Hoạt động điều tra của ĐTV trong giai đoạn khởi tố, điều tra là để đảm bảo việc truy tố, xét xử người phạm tội có căn cứ và đúng pháp luật. Quy trình của việc giải quyết vụ án hình sự là sau khi nhận được các tin tức về tội phạm và người  phạm tội từ các nguồn khác nhau, ĐTV được phân công có trách nhiệm xác minh tin tức đó nhằm xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để làm cơ sở cho việc đề xuất với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT ra quyết định khởi tố VAHS hoặc quyết định không khởi tố VAHS, làm căn cứ cho các hoạt động điều tra tiếp theo.
- Khi được phân công điều tra vụ án, ĐTV là người có quyền tiến hành các biện pháp điều tra do BLTTHS năm 1988 quy định và phải chịu trách nhiệm về các hoạt động điều tra của mình theo quy định tại các điều 92, 93, 94 BLTTHS năm 1988. ĐTV có thẩm quyền quyết định một số hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ chứng minh có tội phạm xảy ra hay không, ai là người thực hiện tội phạm và những tình tiết khác của vụ án, như: Tiến hành hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng; đối chất; nhận dạng; tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; xem xét dấu vết trên thân thể... Còn các hoạt động điều tra quan trọng khác, các biện pháp ngăn chặn thì ĐTV chỉ là người có quyền đề xuất hoặc thi hành, không có thẩm quyền quyết định.
- ĐTV do Thủ trưởng cơ quan quản lý từ cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cùng cấp (quy định tại các điều 24, 25 Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989). Đã có quy định một số tiêu chuẩn nhất định về phẩm chất, về trình độ văn hoá, về trình độ nghiệp vụ, pháp luật, kinh nghiệm công tác điều tra đối với từng bậc ĐTV cụ thể (quy định tại các điều 23, 25 Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989).
Nhìn chung, pháp luật TTHS giai đoạn này đã có những quy định quan trọng đối với hoạt động điều tra nói chung và Điều tra viên - người tiến hành tố tụng, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ điều tra nói riêng. Nhưng những quy định về ĐTV trong luật TTHS giai đoạn này không đồng bộ, thiếu nhất quán và có nhiều điểm không phù hợp với thực tiễn. Có quy định có thể hiểu thành nhiều cách khác nhau, thậm chí có những quy định triệt tiêu hiệu lực của nhau.

3. Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2015

Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 203 và Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004, căn cứ vào các nhiệm vụ của CQĐT, theo quy định của luật TTHS, chức năng, nhiệm vụ của ĐTV như sau:
- Khi được phân công tiến hành điều tra vụ án phải đảm bảo việc áp dụng các biện pháp điều tra theo đúng quy định của BLTTHS để mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện, điều tra, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội.
- Khi thực hiện biện pháp điều tra phải tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời đề xuất hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.
- Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra.
- Khi thi hành quyết định, lệnh của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT trong việc bắt người, tạm giữ, tạm giam và áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác trong hoạt động điều tra phải theo đúng trình tự, thủ tục mà BLTTHS đã quy định.
- Thực hiện nghiêm các yêu cầu, quyết định, mệnh lệnh của Thủ trưởng.
Trong trường hợp không nhất trí với quyết định, mệnh lệnh của Thủ trưởng CQĐT thì vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành, nhưng có quyền khiếu nại lên Thủ trưởng CQĐT cấp trên. Thủ trưởng CQĐT cấp trên có trách nhiệm trực tiếp xem xét và trả lời khiếu nại của ĐTV.
- Bảo đảm những đề xuất lên Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT về việc đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can là có căn cứ và hợp pháp.
- Trong thực hiện nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự phải tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đề xuất Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT để yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.
Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nói trên, ĐTV có những quyền hạn nhất định, cụ thể: Quyền tiến hành các biện pháp điều tra theo Bộ luật TTHS quy định; Quyền kiến nghị đối với quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT khi thấy quyết định này không đúng pháp luật; Quyền khiếu nại lên Thủ trưởng CQĐT cấp trên đối với những quyết định của Thủ trưởng CQĐT trực tiếp. Thủ trưởng CQĐT cấp trên phải trả lời khiếu nại của ĐTV; Quyền đề xuất áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn để Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT quyết định; Quyền ưu tiên mua vé đi lại bằng các phương tiện giao thông công cộng, được miễn cước phí giao thông trong thành phố, thị xã; Trong trường hợp cấp thiết để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người bị nạn, ĐTV có quyền được sử dụng các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và tư nhân, kể cả người điều khiển phương tiện, trừ các phương tiện của cơ quan ngoại giao.
Cùng với nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, ĐTV còn có những trách nhiệm, nghĩa vụ nhất định được thể hiện:
Trước tiên, ĐTV là người tiến hành tố tụng nên cũng có những nghĩa vụ chung của người tiến hành tố tụng, bao gồm như:
- Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4 BLTTHS năm 203). Trong phạm vi quyền hạn, ĐTV phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp điều tra đã áp dụng, kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi các biện pháp đã áp dụng nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.
- Trong khi tiến hành điều tra vụ án, ĐTV phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật, phải chịu trách nhiệm về những hành vi và quyết định của mình (Điều 12, Khoản 2 Điều 35 BLTTHS năm 203).
- Để đảm bảo cho các tổ chức, công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong đấu tranh phòng chống tội phạm, ĐTV trong quá trình điều tra vụ án phải tạo điều kiện thuận lợi để công dân, tổ chức tham gia tố tụng hình sự, phải trả lời kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cho tổ chức đã báo tin và người tố giác tội phạm biết (Khoản 2 Điều 25 BLTTHS năm 203).
- Đảm bảo quyền bào chữa cho bị can, người bị tạm giữ (Điều 11 BLTTHS năm 203). Trong phạm vi thẩm quyền, ĐTV có nghĩa vụ báo cáo, đề xuất Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho bị can trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa mà bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ không nhờ người bào chữa. ĐTV phải báo trước cho người bào chữa về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để người bào chữa có mặt khi hỏi cung bị can, tạo điều kiện thuận lợi để người bào chữa đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu, hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra.
- Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5 BLTTHS năm 203). Khi tiến hành điều tra vụ án, ĐTV không được phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, thành phần, địa vị xã hội. Bất kỳ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
Bên cạnh nghĩa vụ, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng nói chung, ĐTV còn có nghĩa vụ, trách nhiệm riêng, đặc thù với tư cách là người tiến hành tố tụng độc lập khi được phân công điều tra VAHS, bao gồm như:
- ĐTV phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 44 BLTTHS năm 203.
- Trong Cơ quan điều tra, Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người đứng đầu, chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức và chỉ đạo mọi hoạt động điều tra, ĐTV có nghĩa vụ chấp hành sự phân công, chỉ đạo của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (Điều 34, 35 BLTTHS năm 203).
- ĐTV có nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện chức năng kiểm sát công tác điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Nếu những yêu cầu, quyết định của Kiểm sát viên liên quan vấn đề thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì ĐTV phải kịp thời báo cáo, đề xuất để Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định (Điều 114 BLTTHS năm 203).
- ĐTV có nghĩa vụ giữ bí mật công tác điều tra, thông báo cho người tham gia tố tụng không được tiết lộ bí mật điều tra và ghi vào biên bản (Điều 124 BLTTHS năm 203).
- Trong quá trình giải quyết vụ án, khi người tham gia tố tụng có yêu cầu về những vấn đề liên quan vụ án thì ĐTV trong phạm vi trách nhiệm phải giải quyết yêu cầu của họ và thông báo cho họ biết kết quả. Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu của người tham gia tố tụng thì phải trả lời và nêu rõ lý do (Điều 122 BLTTHS năm 203).
- Trong khi điều tra vụ án hình sự, ĐTV còn có nghĩa vụ lập và ký các loại biên bản theo quy định chung của pháp luật. Điều 95 Bộ luật TTHS năm 203 quy định “khi tiến hành các hoạt động tố tụng, bắt buộc phải lập biên bản theo mẫu quy định thống nhất”. “Những tình tiết được ghi trong các biên bản...” về hoạt động điều tra “...có thể được coi là chứng cứ” của vụ án (Điều 77 BLTTHS năm 203).
- Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu ĐTV do lỗi của mình đã gây oan, sai cho người vô tội thì có nghĩa vụ bồi hoàn theo quy định của pháp luật. Điều 29 BLTTHS năm 203 quy định để đảm bảo nhanh chóng việc bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan, sai, Cơ quan điều tra có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan. ĐTV gây oan do lỗi của mình trong quá trình khởi tố, điều tra có nghĩa vụ bồi hoàn cho Cơ quan điều tra theo quy định.
- Nếu ĐTV gây thiệt hại cho người bị thiệt hại thì có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại. Điều 30 BLTTHS năm 203 quy định Cơ quan điều tra phải bồi thường cho người bị thiệt hại, ĐTV gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi hoàn thiệt hại cho Cơ quan điều tra theo quy định.
- Ngoài ra, ĐTV còn có nghĩa vụ chấp hành nghiêm túc quy định những việc ĐTV không được làm theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004. Riêng đối với ĐTV thuộc lực lượng Công an nhân dân còn có nghĩa vụ thực hiện “những việc sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân không được làm” quy định tại Điều 31 Luật Công an nhân dân năm 2014.

4. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự sau năm 2015

4.1 Quy định về Điều tra viên

Thuật ngữ “Điều tra viên” được sử dụng trong pháp luật tố tụng hình sự, được quy định chính thức trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Pháp lệnh TCĐTHS năm 1989 và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Đến năm 2004, tại Điều 29 Pháp lệnh TCĐTHS đã quy định về ĐTV như sau: “Điều tra viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự”. Từ đó cho đến nay, đây vẫn là khái niệm chính xác nhất về ĐTV với tư cách là một chức danh tư pháp. Theo Điều 45 Luật Tổ chức CQĐTHS năm 2015 thì ĐTV được chia thành 3 ngạch khác nhau để phục vụ việc chuẩn hóa, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng ĐTV cũng như để chức danh ĐTV phù hợp với các chức danh tư pháp khác (KSV, thẩm phán). Theo đó, ĐTV gồm có các ngạch sau đây: ĐTV sơ cấp; ĐTV trung cấp; ĐTV cao cấp.
Theo Điều 46 Luật Tổ chức CQĐTHS năm 2015, quy định về tiêu chuẩn chung của ĐTV như sau: “Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Có trình độ đại học An ninh nhân dân, đại học Cảnh sát nhân dân hoặc Cử nhân luật trở lên. Có thời gian làm công tác pháp luật theo quy định của luật này. Đã được đào tạo nghiệp vụ điều tra. Có sức khỏe đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao”.
Để xác định được các nhiệm vụ cụ thể của ĐTV theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, cần xem xét quy định về nhiệm vụ của Cơ quan điều tra. Theo Điều 8 Luật Tổ chức CQĐTHS quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra như sau: “Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao; Tiến hành điều tra các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật định để phát hiện, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; Tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan hữu quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa”
Theo Điều 53 Luật Tổ chức CQĐTHS năm 2015, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của ĐTV như sau: Tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và các hoạt động điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự; Áp dụng các biện pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật khác có liên quan để điều tra, xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ; Tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định; Chấp hành quy định của pháp luật về những việc cán bộ, công chức hoặc cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân không được làm; ĐTV phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi, quyết định của mình.
Theo quan điểm của cá nhân các quy định trên về ĐTV là khá chi tiết, cụ thể theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, có sự kế thừa của những quy định cũ, bổ sung thêm vào những nội dung mới đầy đủ hơn.

4.2 Quy định về hoạt động điều tra của Điều tra viên

Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015, Luật Tổ chức CQĐTHS năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác thì để điều tra vụ án hình sự, trong hoạt động điều tra của ĐTV có các quyền hạn sau:
Thứ nhất, ĐTV có thẩm quyền quyết định, trực tiếp tổ chức tiến hành hoặc chủ trì tiến hành các biện pháp điều tra, thực hiện các hoạt động điều tra như: Bắt người phạm tội quả tang (Điều 111 BLTTHS năm 2015); Bắt người đang bị truy nã (Điều 112 BLTTHS năm 2015); Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra (Điều 37, 201, 202, 203, 204 BLTTHS năm 2015); Kê biên tài sản; phong tỏa tài khoản; thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử; thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan tổ chức bưu chính, viễn thông; tạm giữ tài liệu, đồ vật, tài sản có liên quan vụ án khi được phân công thi hành lệnh khám xét, lệnh bắt, lệnh kê biên tài sản, lệnh phong tỏa tài khoản của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (Điều 37, 128, 129, 196, 197, 198 BLTTHS năm 2015); Triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự (Điều 37, 182, 183, 185, 186, 188 BLTTHS năm 2015); Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, ngượi bị kiến nghị khởi tố,  bị hại, quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát, quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 37, 127, BLTTHS năm 2015); Đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói (Điều 37, 189, 190, 191 BLTTHS năm 2015)...
Trong số các hoạt động điều tra trên, chỉ có hoạt động bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang và khám nghiệm hiện trường là hoạt động được BLTTHS năm 2015 quy định có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự, còn lại đều không quy định rõ thời điểm có thể tiến hành là trước hay sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Thứ hai, ĐTV không có thẩm quyền quyết định, chỉ có quyền giới hạn là thi hành, tổ chức và trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra, thực hiện các hoạt động điều tra theo lệnh, quyết định, phân công của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (Điều 37, 127, BLTTHS năm 2015), cụ thể như: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 110 BLTTHS năm 2015); Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 113 BLTTHS năm 2015); Bảo lĩnh (Điều 121 BLTTHS năm 2015); Đặt tiền để bảo đảm (Điều 122 BLTTHS năm 2015); Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123 BLTTHS năm 2015); Tạm giữ (Điều 117 BLTTHS năm 2015); Tạm giam (Điều 119 BLTTHS năm 2015); Truy nã, đình nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng (Điều 36 BLTTHS năm 2015); Trưng cầu giám định, giám định bổ sung  hoặc giám định lại, khai quật tử thi, thực nghiệm điều tra, thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định, yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản (Điều 36 BLTTHS năm 2015)...
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê