Mục lục bài viết
- 1. Lịch sử hình thành và phát triển về giải quyết tranh chấp đất đai
- 1.1 Thời kỳ trước khi ban hành Hiến pháp 1980
- 1.2 Thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp 1980
- 1.3 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 203 ban hành đến trước khi có Luật Đất đai 2013 ra đời
- 2. Các nguyên tắc của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
- 3. Cơ cấu về nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
1. Lịch sử hình thành và phát triển về giải quyết tranh chấp đất đai
1.1 Thời kỳ trước khi ban hành Hiến pháp 1980
Từ năm 1976 đến trước khi Hiến pháp năm 1980 được thông qua Nhà nước ta đã ban hành trên 800 văn bản pháp luật, trong đó có một luật, 3 pháp lệnh. 532 văn bản của Chính phủ, 241 văn bản của các Bộ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ. Như vậy, giai đoạn này thẩm quyền GQTCĐĐ của ủy ban hành chính các cấp chưa được quy định rõ ràng. Thực tế, việc giải quyết các TCĐĐ chủ yếu do ủy ban hành chính cấp xã thực hiện với vai trò của tổ chức nông hội địa phương (tham gia nhiều vào công việc chính quyền), cơ quan tư pháp chỉ xuất hiện khi giải quyết tranh chấp hoa màu trên đất bãi sa bồi.
1.2 Thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp 1980
- Giai đoạn từ khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực đến trước khi Luật Đất đai 1987 ra đời
Hiến pháp 1980 ra đời đã khép lại một chặng đường dài phấn đấu không ngừngcủa Nhà nước ta nhằm mục tiêu xã hội hóa toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước. Điều 19 và Điều 20 Hiến pháp 1980 quy định: “Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng”. Do đó, một số hợp tác xã, tổ chức và các tập đoàn sản xuất nông nghiệp thời kỳ bấy giờ đi đến tan rã, đất đai lại có sự chia cấp lại theo quy định mới. Tuy vậy, việc GQTCĐĐ còn quan liêu, mang nặng tính mệnh lệnh hành chính.
- Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 1987 được ban hành đến trước khi Luật Đất đai 93 ra đời.
Hiến pháp 1980 cũng như khi Luật Đất đai 1987 được ban hành và có hiệu lực đều khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Song các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành đã không xác định rõ ràng quyền lợi của người sử dụng đất đã làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất. Trong giai đoạn này, nổi trội nhất phải kể đến chủ trương thực hiện cơ chế quản lý kinh tế mới trong nông nghiệp theo Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị …
Đối với nhà ở, các tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này thường liên quan đến nhà cải tạo, nhà vắng chủ, đòi lại nhà cho thuê trước ngày 1/7/1991 (Pháp lệnh về nhà ở có hiệu lực). Ngoài ra, còn xuất hiện các tranh chấp về nhà ở khi vợ chồng ly hôn. Để tạo cơ sở pháp lý giải quyết tình hình TCĐĐ kể trên. Nghị định 30-HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thi hành Luật Đất đai (Điều 15, 16).Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc GQTCĐĐ liên quan đến địa giới hành chính. Các văn bản pháp luật được Nhà nước ban hành trong thời kỳ này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện các nội dung GQTCĐĐ, góp phần vào việc giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, ổn định sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế.
- Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 93 ban hành đến trước khi có Luật Đất đai 203 ra đời.
Luật Đất đai 93 dựa trên cơ sở của Hiến pháp 1992, đã khắc phục được nhiều nhược điểm của Luật Đất đai 1987, đã sửa đổi, bổ sung một số quy định không còn phù hợp để giải quyết những vấn đề quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Sau hai lần sửa đổi, bổ sung, Luật Đất đai 93 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998 và ngày 29 tháng 6 năm 2001, cùng hệ thống các văn bản dưới luật, đã hình thành một ngành luật đất đai, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội của đất nước.
Luật Đất đai 93 đã chế định cơ sở pháp lý cơ bản để quan hệ đất đai ở nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật này đã đề cập đến.nhiều nội dung quan trọng song có thể nêu lên bốn nội dung cơ bản nhất sau đây.
Thông tư liên tịch số 02/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC của TAND tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Tổng cục Địa chính ngày 28/7/1997 hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai. Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TAND- VKSNDTC-TCĐC ngày03/1/2002 của TANDTC, VKSNDTC và Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.
1.3 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 203 ban hành đến trước khi có Luật Đất đai 2013 ra đời
Kế thừa các quy định của Luật Đất đai năm 93, ngày 26/11/203, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Đất đai mới - Luật Đất đai năm 203, có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2004. (trong đó quy định thẩm quyền GQTCĐĐ từ Điều 135 đến Điều 137). Kế thừa những nội dung còn phù hợp của Luật đất đai hiện hành, luật hoá một số quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai đã được cuộc sống chấp nhận, đồng thời đưa vào Luật đất đai những nội dung mới cần sửa đổi, bổ sung nhằm tạo lập một hệ thống pháp luật, đáp ứng cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Luật Đất đai 203 tăng cường vai trò giải quyết tranh chấp của Toà án nhân dân. Cụ thể, Luật này quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết. Việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện ở 2 cấp, trong đó cấp thứ 2 là cấp giải quyết cuối cùng. Như vậy, một mặt đảm bảo quyền của công dân, mặt khác xác định rõ phạm vi, chức năng, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa Toà án nhân dân và cơ quan hành chính các cấp.
Như vậy, Luật đất đai năm 203 quy định về thẩm quyền GQTCĐĐ của TAND có những điểm mới cơ bản như sau:
Thứ nhất, pháp luật đất đai ngày càng đề cao vị trí và vai trò của TAND trong việc giải quyết các TCĐĐ. Điều này phù hợp với thông lệ và tập quán pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Hơn nữa thẩm quyền GQTCĐĐ của TAND ngày càng đươc mở rộng và được quy định rất cụ thể.
Thứ hai, so với quy định của luật Đất đai năm 93 thì Luật đất đai năm 203 đã mở rộng phạm vi GQTCĐĐ của TAND. Theo đó, TAND không chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản gắn liền với đất và các TCĐĐ mà người sử dụng đất đã có GCNQSDĐ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, mà còn giải quyết các TCĐĐ tuy người sử dụng đất chưa được Nhà nước cấp GCNQSDĐ, nhưng có một trong các loại giấy tờ về SDĐ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50. Từ những phân tích ở trên cho thấy, việc mở rộng thẩm quyền GQTCĐĐ của TAND các cấp theo Luật Đất đai năm 203 đã kế thừa các quy định của Luật Đất đai năm 93 và đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta tại thời điểm này. Bởi lẽ, nếu chỉ quy định cho TAND có thẩm quyền giải quyết các TCĐĐ mà người sử dụng đất đã có GCNQSDĐ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật đất đai năm 93 thì sẽ nảy sinh những rắc rối là người sử dụng đất được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp nhiều loại GCNQSDĐ.
Ngày 29/11/2013, tại kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội khóa 13 đã chính thức thông qua Luật đất đai 2013. Luật này có hiệu lực từ ngày 1/7/2014 đã có những thay đổi các quy định về GQTCĐĐ ở Việt Nam.
2. Các nguyên tắc của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
Muốn đáp ứng được các yêu cầu đó, thì việc GQTCĐĐ phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
(1) Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý trên toàn quốc
Hiến pháp 2013, Luật Đất đai hiện hành khẳng định toàn bộ đất đai trên lãnh thổ Việt Nam đều thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Trong thực tế vừa qua có mâu thuẫn về quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, nhưng quyền của đại diện chủ sở hữu, nhất là quyền định đoạt và quyền hưởng lợi từ đất đai chưa được định rõ; trong khi đó, người được Nhà nước giao đất (người sử dụng) tự coi như người chủ sở hữu, tùy tiện mua bán, chuyển nhượng. Trên thực tế, Nhà nước phải mặc cả với người sử dụng đất khi thu hồi đất sử dụng vào các mục đích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội. Việc thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp, dẫn đến nhiều vụ khiếu kiện liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư....
(2) Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc tự thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân Để bảo vệ một cách tốt nhất những lợi ích thiết thân đó, trước hết các
bên tranh chấp phải gặp nhau để bàn bạc, thảo luận và thương lượng. Đó cũng là cơ sở quan trọng đảm bảo quyền tự do định đoạt cho các đương sự. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai chỉ thụ lý đơn khi các bên đã tiến hành qua thủ tục này mà không đạt được sự nhất trí cần thiết.
(3) Việc GQTCĐĐ phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, gắn việc GQTCĐĐ với việc tổ chức lại sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất có việc làm phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng trong quá trình triển khai các chính sách về nông nghiệp, nông thôn. Do ảnh hưởng tiêu cực của TCĐĐ đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội nên việc giải quyết các TCĐĐ phải nhằm vào mục đích bình ổn các quan hệ xã hội.
(4) Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
Mọi hoạt động trong đời sống kinh tế, xã hội đều hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, việc giải quyết các tranh chấp dân sự nối chung và giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng cũng phải chú ý và tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà hiến pháp, pháp luật của Nhà nước đã quy định nói chung và phát luật về tố tụng, pháp luật về đất đai nói riêng. Đồng thời, việc giải quyết các tranh chấp đất đai phải được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phát hiện và giải quyết kịp thời các vụ tranh chấp theo đúng quy trình nhằm giảm thiểu các vi phạm pháp luật về đất đai, tránh tình trạng để các TCĐĐ kéo dài, làm ảnh hưởng tới tâm lý và lợi ích của người dân cũng như trật tự, an toàn tại địa phương.
3. Cơ cấu về nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
Một quan hệ pháp luật đất đai được cấu thành bởi các yếu tố: chủ thể, nội dung và khách thể của quan hệ pháp luật đất đai
Chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai: Chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai là các chủ thể dựa trên cơ sở các quy phạm pháp luật mà tham gia vào một quan hệ pháp luật đất đai để hưởng quyền và làm nghĩa vụ trong quan hệ đó. Chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai gồm có Nhà nước và người sử dụng đất.
Nhà nước tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Nhà nước tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua các cơ quan nhà nước.
Chủ thể sử dụng đất là người đang thực tế chiếm hữu đất đai do Nhà nước giao, cho thuê, cho phép nhận quyền sử dụng đất hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Các chủ thể sử dụng đất này gồm các tổ chức trong nước; cá nhân, hộ gia đình trong nước; cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (Điều 5 Luật Đất đai năm 2013).
Chủ thể đang thực tế chiếm hữu đất đai được phân chia thành: chủ thể đã có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất (đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); chủ thể có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất (chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, những đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận); và chủ thể không đủ giấy tờ theo quy định nhưng được công nhận quyền sử dụng đất.
Nội dung của quan hệ pháp luật đất đai: Nội dung của quan hệ pháp luật đất đai là tổng thể quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai. Các quyền hạn, nghĩa vụ này được pháp luật quy định và bảo vệ.
Khách thể của quan hệ pháp luật đất đai: Khách thể của quan hệ pháp luật đất đai là cái mà các chủ thể nhằm hướng tới, đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.
Cơ cấu về nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm:
Thứ nhất, nhóm các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành
Căn cứ để GQTCĐĐ là một nội dung không thể thiếu của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai. Đây chính là vấn đề xác định cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai giữa các chủ thể tranh chấp.
Thứ hai, nhóm các quy định về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật
Đây chính là các quy định về các bước cần phải thực hiện trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai. Đó là các quy định về hòa giải, về trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp đất đai tại cơ quan hành chính nhà nước và tại tòa án nhân dân.
Thứ ba, pháp luật nội dung về giải quyết tranh chấp đất đai. Đây chính là các quy định của pháp luật đất đai về quản lý, sử dụng đất, về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; là các quy định của pháp luật dân sự, pháp
luật đất đai, pháp luật về kinh doanh bất động sản về các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất…