1. Thời kỳ trước khi ban hành Hiến pháp 1980

Từ năm 1976 đến trước khi Hiến pháp năm 1980 được thông qua Nhà nước ta đã ban hành trên 800 văn bản pháp luật, trong đó có một luật, 3 pháp lệnh. 532 văn bản của Chính phủ, 241 văn bản của các Bộ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ. Như vậy, giai đoạn này thẩm quyền GQTCĐĐ của ủy ban hành chính các cấp chưa được quy định rõ ràng. Thực tế, việc giải quyết các TCĐĐ chủ yếu do ủy ban hành chính cấp xã thực hiện với vai trò của tổ chức nông hội địa phương (tham gia nhiều vào công việc chính quyền), cơ quan tư pháp chỉ xuất hiện khi giải quyết tranh chấp hoa màu trên đất bãi sa bồi.

2. Thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp 1980

2.1 Giai đoạn từ khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực đến trước khi Luật Đất đai 1987 ra đời

Hiến pháp 1980 ra đời đã khép lại một chặng đường dài phấn đấu không ngừngcủa Nhà nước ta nhằm mục tiêu xã hội hóa toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước. Điều 19 và Điều 20 Hiến pháp 1980 quy định: “Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng”. Do đó, một số hợp tác xã, tổ chức và các tập đoàn sản xuất nông nghiệp thời kỳ bấy giờ đi đến tan rã, đất đai lại có sự chia cấp lại theo quy định mới. Tuy vậy, việc GQTCĐĐ còn quan liêu, mang nặng tính mệnh lệnh hành chính.

2.2 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 1987 được ban hành đến trước khi Luật Đất đai 193 ra đời

Hiến pháp 1980 cũng như khi Luật Đất đai 1987 được ban hành và có hiệu lực đều khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Song các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành đã không xác định rõ ràng quyền lợi của người sử dụng đất đã làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất. Trong giai đoạn này, nổi trội nhất phải kể đến chủ trương thực hiện cơ chế quản lý kinh tế mới trong nông nghiệp theo Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị…
Đối với nhà ở, các tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này thường liên quan đến nhà cải tạo, nhà vắng chủ, đòi lại nhà cho thuê trước ngày 1/7/1991 (Pháp lệnh về nhà ở có hiệu lực). Ngoài ra, còn xuất hiện các tranh chấp về nhà ở khi vợ chồng ly hôn. Để tạo cơ sở pháp lý giải quyết tình hình TCĐĐ kể trên. Nghị định 30-HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thi hành Luật Đất đai (Điều 15, 16).Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc GQTCĐĐ liên quan đến địa giới hành chính. Các văn bản pháp luật được Nhà nước ban hành trong thời kỳ này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện các nội dung GQTCĐĐ, góp phần vào việc giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, ổn định sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế.

2.3 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 193 ban hành đến trước khi có Luật Đất đai 203 ra đời

Luật Đất đai 93 dựa trên cơ sở của Hiến pháp 1992, đã khắc phục được nhiều nhược điểm của Luật Đất đai 1987, đã sửa đổi, bổ sung một số quy định không còn phù hợp để giải quyết những vấn đề quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Sau hai lần sửa đổi, bổ sung, Luật Đất đai 93 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998 và ngày 29 tháng 6 năm 2001, cùng hệ thống các văn bản dưới luật, đã hình thành một ngành luật đất đai, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội của đất nước.
Luật Đất đai 93 đã chế định cơ sở pháp lý cơ bản để quan hệ đất đai ở nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật này đã đề cập đến.nhiều nội dung quan trọng song có thể nêu lên bốn nội dung cơ bản nhất sau đây.
Thông tư liên tịch số 02/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC của TAND tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Tổng cục Địa chính ngày 28/7/1997 hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai. Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TAND- VKSNDTC-TCĐC ngày03/1/2002 của TANDTC, VKSNDTC và Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.

2.4 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 203 ban hành đến trước khi có Luật Đất đai 2013 ra đời

Kế thừa các quy định của Luật Đất đai năm 93, ngày 26/11/203, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Đất đai mới - Luật Đất đai năm 203, có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2004. (trong đó quy định thẩm quyền GQTCĐĐ từ Điều 135 đến Điều 137). Kế thừa những nội dung còn phù hợp của Luật đất đai hiện hành, luật hoá một số quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai đã được cuộc sống chấp nhận, đồng thời đưa vào Luật đất đai những nội dung mới cần sửa đổi, bổ sung nhằm tạo lập một hệ thống pháp luật, đáp ứng cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Luật Đất đai 203 tăng cường vai trò giải quyết tranh chấp của Toà án nhân dân. Cụ thể, Luật này quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết. Việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện ở 2 cấp, trong đó cấp thứ 2 là cấp giải quyết cuối cùng. Như vậy, một mặt đảm bảo quyền của công dân, mặt khác xác định rõ phạm vi, chức năng, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa Toà án nhân dân và cơ quan hành chính các cấp.
Như vậy, Luật đất đai năm 203 quy định về thẩm quyền GQTCĐĐ của TAND có những điểm mới cơ bản như sau:
Thứ nhất, pháp luật đất đai ngày càng đề cao vị trí và vai trò của TAND trong việc giải quyết các TCĐĐ. Điều này phù hợp với thông lệ và tập quán pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Hơn nữa thẩm quyền GQTCĐĐ của TAND ngày càng đươc mở rộng và được quy định rất cụ thể.
Thứ hai, so với quy định của luật Đất đai năm 93 thì Luật đất đai năm 203 đã mở rộng phạm vi GQTCĐĐ của TAND. Theo đó, TAND không chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản gắn liền với đất và các TCĐĐ mà người sử dụng đất đã có GCNQSDĐ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, mà còn giải quyết các TCĐĐ tuy người sử dụng đất chưa được Nhà nước cấp GCNQSDĐ, nhưng có một trong các loại giấy tờ về SDĐ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50. Từ những phân tích ở trên  cho thấy, việc mở rộng thẩm quyền GQTCĐĐ của TAND các cấp theo Luật Đất đai năm 203 đã kế thừa các quy định của Luật Đất đai năm 93 và đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta tại thời điểm này. Bởi lẽ, nếu chỉ quy định cho TAND có thẩm quyền giải quyết các TCĐĐ mà người sử dụng đất đã có GCNQSDĐ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật đất đai năm 93 thì sẽ nảy sinh những rắc rối là người sử dụng đất được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp nhiều loại GCNQSDĐ.
Ngày 29/11/2013, tại kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội khóa 13 đã chính thức thông qua Luật đất đai 2013. Luật này có hiệu lực từ ngày 1/7/2014 đã có những thay đổi các quy định về GQTCĐĐ ở Việt Nam.

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai

3.1 Các yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội

Pháp luật và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, đặc biệt là phát luật về đất đai có sự thay đổi rất nhiều, gắn với thực tiễn của thị trường bất động sản và thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong việc phát triển sản xuất kinh doanh. Nếu hệ thống văn bản pháp luật về đất đai phản ánh chính xác, kịp thời và phù hợp với những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chứa đựng nội dung phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương và yêu cầu các quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai và kinh tế - xã hội sẽ tạo những “đòn bẩy” tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung và thị trường về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng, góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển, xã hội được ổn định. Ngược lại, sự phát triển của kinh tế - xã hội với những diễn biến khác nhau với nhiều mâu thuẫn, tranh chấp có thể xảy ra, để ổn định kinh tế và xã hội thì việc ban hành văn bản pháp luật quản lý cũng như giải quyết các tranh chấp về đất đai là hết sức cần thiết.

3.2 Đường lối chính sách của Đảng, và lợi ích của các bên có liên quan

Với tư cách là phương tiện cơ bản của Nhà nước trong quản lý, các văn bản pháp luật đất đai phải có nội dung phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thể chế hóa thành pháp luật hoặc trong việc tổ chức thực hiện trên thực tế các đường lối, chính sách đó, có như vậy mới bảo đảm thực hiện có hiệu quả và mới bảo vệ hữu hiệu lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác.

3.3 Yếu tố xã hội

Vì muốn tác động vào các đối tượng quản lý, trước hết chủ thể có thẩm quyền phải sử dụng văn bản để tác động tới nhận thức của những đối tượng  có liên quan, qua đó mới điều chỉnh hành vi của họ, trong khi đó nhận thức của các đối tượng này bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau thuộc đời sống ý thức xã hội nên giữa ý thức xã hội với nội dung văn bản pháp luật có mối liên hệ mật thiết, có sự tác động qua lại rất sâu sắc.

3.4 Yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế

Trong điều kiện hội nhập kinh tế và mở rộng giao lưu hợp tác nhiều mặt với các nước, các tổ chức quốc tế như hiện nay, sự phù hợp này là cần thiết, đặc biệt là đối với các quy định về quản lý kinh tế, tuy nhiên cũng cần xác định rõ những vấn đề nào có thể tiếp thu có chọn lọc để nội luật hóa, những vấn đề nào mang tính nguyên tắc bất di bất dịch, không thể tiếp thu “nội hóa”, có như vậy mới có thể vừa tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới mở rộng quan hệ nhiều mặt. Vừa giữa vững lập trường, không bị chệch hướng phát triển đã lựa chọn và không làm mất đi bản sắc dân tộc trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hành chính - Công ty Luật Minh Khuê