Khi đó do tin tưởng, anh chị của tôi hỏi dò về việc vay vốn nên tôi không hỏi thêm và đồng ý ký tên ủy quyền cho mượn sổ đỏ vay ngân hàng. Khi làm thủ tục vay vốn, C hoàn toàn không nói cho gia đình biết vay bao nhiên và bao lâu mới trả nợ. Đến hôm nay ngày 31/03/2017 tôi mới nhận đươc thông báo của nhân viên ngân hàng là C đã vay 150 triệu tiền gốc và tổng cộng luôn tiền lãi là trên 200 triệu đồng và C không trả nợ. Tuy số tiền không lớn nhưng do gia đình khó khăn, nên việc bị phát mãi căn nhà (khoảng 500 triệu đồng) cộng thêm việc mẹ tôi tuổi già sức yếu nên không thể trả nợ. Nay tôi viết thư này trình bày rõ sự việc nêu trên, kính xin luật sư tư vấn giúp tôi là tôi có thể khởi kiện C có hành vi lừa đảo. Và buộc C phải chi trả toàn bộ số tiền vay ngân hàng được không ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số:  1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê! Câu hỏi của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật hình sự năm 2015

2. Luật sư tư vấn:

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng ủy quyền bán, cho thuê nhà ở mới nhất năm 2020

Thứ nhất, với yêu cầu khởi kiện C về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: 

Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm..."

Có thể thấy khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và được thể hiện bằng hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.

Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, có thể hiểu được rằng C đã được mẹ bạn uỷ quyền để thực hiện việc vay vốn ngân hàng bằng quyền sử dụng đất do đó không thể xác định C đang có dấu hiệu của việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản được.

Thứ hai về yêu cầu buộc anh C chi trả số tiền nợ Ngân hàng:

Căn cứ điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).

Do đó, có thể thấy C là người thực hiện thủ tục thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng do đã có uỷ quyền tự mẹ bạn do đó C phải là người trả nợ cho ngân hàng nếu giữa bạn, ngân hàng và C không có thoả thuận khác.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi  1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê  

>> Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền của doanh nghiệp mới nhất năm 2020 ? Quy định về nội dung, phạm vi ủy quyền ?

>> Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền trong hồ sơ mời thầu xây lắp và Mẫu thỏa thuận liên danh đấu thầu xây lắp