Điều 121 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Từ quy định này ta thấy giao dịch dân sự được xác định là kết quả của việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí. Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định.
Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản thân họ. Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ý chí của chủ thể muốn tham gia đã tham gia vào một giao dịch dân sự cụ thể.
Bởi vậy, giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Thiếu sự thống nhất này, giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu. Điều này không chỉ đúng với cá nhân mà đúng với cả pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Bởi khi xác lập giao dịch dân sự các chủ thể này đều thông qua người đại diện. Người đại diện thể hiện ý chí của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trong phạm vi thẩm quyền đại diện.
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó. (Điều 118 Bộ luật dân sự 2015). Mục đích của giao dịch dân sự chính là hậu quả pháp lí sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Nói cách khác, mục đích ở đây luôn mang tính pháp lí. Mục đích pháp lí đó sẽ trở thành hiện thực, nếu như các bên trong giao dịch thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Mục đích pháp lí của giao dịch khác với động cơ xác lập giao dịch.
Động cơ xác lập giao dịch dân sự là nguyên nhân thúc đẩy các bên tham gia giao dịch. Động cơ của giao dịch không mang tính pháp lí. Khi xác lập giao dịch, nếu như động cơ không đạt được thì điều đó cũng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch. Mục đích luôn luôn được xác định còn động cơ có thể được xác định hoặc không.
Ví dụ: Mua bán nhà ở, mục đích của người mua là quyền sở hữu nhà, còn động cơ có thể để ở, có thể để cho thuê, có thể bán lại…
Tuy nhiên, động cơ của giao dịch có thể được các bên thoả thuận và mang ý nghĩa pháp lí. Trong trường hợp này động cơ đã trở thành điều khoản của giao dịch, là một bộ phận cấu thành của giao dịch đó (như cho vay tiền để sản xuất – mục đích của người vay là quyền sở hữu số tiền nhưng họ chỉ được dùng tiền đó để sản xuất mà không được sử dụng vào hoạt động khác).
Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự; là phương tiện pháp lí quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc dịch chuyển tài sản và cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các thành viên trong xã hội. Trong nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, thông qua giao dịch dân sự (hợp đồng) các chủ thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu khác trong đời sống hàng ngày của mình.
1. Lừa dối trong giao dịch dân sự là gì?
Quy định pháp luật về lừa đối trong giao dịch:
Hành vi lừa dối có thể do bên tham gia giao dịch trực tiếp thực hiện hoặc thông qua hành vi của người thứ ba.
Giao dịch được xác lập do sự lừa dối có thể bị tuyên bố vô hiệu. Thời hiệu khởi kiện tuyên bố giao dịch dân sự do lừa dối là một năm. Khi giao dịch bị tuyên bố là vô hiệu, bên lừa dối phải bồi thường thiệt hại; tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức của bên lừa dối bị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
2. Đe dọa trong giao dịch dân sự là gì ?
Cách hiểu về đe dọa trong giao dịch dân sự:
Đe dọa trong giao dịch dân sự có thể là trực tiếp hoặc thông qua người thứ ba làm cho người bị đe dọa tin rằng hậu quả xấu về tính mạng, tài sản, sức khỏe chắc chắn sẽ xảy ra đối với mình hoặc thân nhân nếu không xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Giao dịch dân sự được xác lập do bị đe dọa không có sự thống nhất ý chí, tự nguyện và không vì lợi ích của bên bị đe dọa. Do đó, giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện do bị đe dọa có thể bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu khi người bị đe dọa có yêu cầu.
3. Giải thích giao dịch dân sự là gì ?
Nội dung khái niệm về giải thích giao dịch dân sự:
Khi giải thích giao dịch dân sự không chỉ căn cứ vào ngôn từ dùng trong giao dịch mà còn phải căn cứ vào ý muốn đích thực của các bên khi xác lập giao dịch và mục đích của giao dịch đó.
Khi giao dịch dân sự có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch, theo tập quán tại nơi giao dịch được xác lập.
Nếu bên mạnh thế về kinh tế đưa vào giao dịch dân sự nội dung bất lợi cho bên yếu thế về kinh tế thì khi giải thích giao dịch dân sự phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế.
Nếu các nội dung, điều khoản có thể được hiểu theo nhiều nghĩa thì phải chọn nghĩa nào làm cho nội dung hoặc điều khoản đó khi thực hiện có lợi nhất cho các bên.
Trong trường hợp giao dịch được xác lập theo mẫu của một bên đưa ra có nội dung, điều khoản không rõ ràng thì bên đã đưa ra mẫu phải chịu sự bất lợi khi giải thích nội dung hay điều khoản đó.
4. Cách phân loại giao dịch dân sự hiện nay ?
Tất cả các giao dịch dân sự đều có điểm chung tạo thành bản chất của giao dịch: Đó là ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Căn cứ vào các bên tham gia vào giao dịch có thể phân biệt giao dịch dân sự thành hai loại là hợp đồng và hành vi pháp lí đơn phương.
4.1 Hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của hai hay nhiều bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (xem Phần thứ ba BLDS năm 2015 - Nghĩa vụ và hợp đồng).
Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến nhất ttong đời sống hàng ngày. Thông thường hợp đồng có hai bên tham gia trong đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong một quan hệ cụ thể (mua bán, cho thuê...) nhưng cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia (hợp đồng hợp tác - Điều 504 BLDS). Mỗi bên trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia. Trong hợp đồng ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí của các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng. Do vậy, họp đồng dân sự là sự thoả thuận nhằm thống nhất ý chí chung của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chẩm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. "Thoả thuận" vừa là nguyên tắc, vừa là đặc trưng của hợp đồng dân sự và được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quan hệ họp đồng - từ giao kết đến thực hiện hoặc sửa đổi, chấm dứt họp đồng dân sự.
4.2 Hành vi pháp lí đơn phương
Hành vi pháp lí đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Thông thường, hành vi pháp lí đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất (lập di chúc, từ chối hưởng thừa kế). Có thể có nhiều chủ thể cùng tham gia vào một bên của giao dịch (hai cá nhân, tổ chức cùng tuyên bố hứa thưởng...). Trong nhiều trường hợp hành vi pháp lí đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lí khi có những người khác đáp ứng được những điều kiện nhất định do người xác lập giao dịch đưa ra. Những người này phải đáp ứng được các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lập giao dịch (hứa thưởng, thi có giải...). Hành vi pháp ư đơn phương là một giao dịch cho nên nội dung và hình thức phải phù hợp với các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 117 BLDS năm 2015).
4.3 Giao dịch dân sự có điều kiện
Giao dịch có điều kiện là giao dịch mà hiệu lực của nó phát sinh hoặc huỷ bỏ phụ thuộc vào sự kiện nhất định. Khi sự kiện đó xảy ra thì giao dịch phát sinh hoặc huỷ bỏ.
Sự kiện được coi là điều kiện của giao dịch do chính người xác lập giao dịch định ra (ttong hợp đồng thì điều kiện đó do chính các bên thoả thuận). Nó phải là sự kiện thuộc về tương lai. Sự kiện đó xảy ra hay không xảy ra không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong giao dịch. Sự kiện làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch phải hợp pháp. Quy định giao dịch dân sự có điều kiện (Điều 120 BLDS năm 2015) cho phép chủ thể thực hiện tốt hơn các quyền dân sự của họ.
Giao dịch có thể xác lập với điều kiện phát sinh hoặc điều kiện huỷ bỏ. Giao dịch có điều kiện phát sinh là giao dịch âã. được xác lập nhưng chỉ phát sinh hiệu lực khi có sự kiện được coi là điều kiện xảy ra. Giao dịch có đỉều kiện huỷ bỏ là giao dịch được xác lập và phát sinh hiệu lực nhưng khi có sự kiện là điều kiện xảy ra thì giao dịch bị huỷ bỏ.
Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự về pháp nhân trong nước và pháp nhân nước ngoài cũng như các vấn đề khác liên quan ... Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê