1. Định nghĩa luật đầu tư nước ngoài

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là văn bản luật chứa đựng có hệ thống các quy phạm pháp luật, được sắp xếp theo một trình tự rõ ràng, quy định, điều chỉnh chế độ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá IX, kì họp thứ 10 thông qua ngày 12.11.1996, có hiệu lực từ ngày 23.11.1996, thay thế Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 và hai Luật sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990 và 1992. Theo đó, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thực hiện theo các nguyên tắc: Nhà nước Việt Nam khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và tuân thủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi; Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyển sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của các nhà đầu tư nước ngoài.

2. Đối tượng điều chỉnh luật đầu tư nước ngoài

Đối tượng điều chỉnh của Luật là những quan hệ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam với cách hiểu là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài, nhà : đầu tư nước ngoài trực tiếp đầu tư vào Việt Nam vốn ”” bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

3. Phạm vi điều chỉnh luật đầu tư nước ngoài

Phạm vi điều chỉnh của Luật bao gồm các quan hệ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài dưới các hình thức: Hợp đồng hợp tác kinh doanh; thành lập doanh nghiệp liên doanh; thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Ba hình thức đầu tư trực tiếp này cũng được quy định trong Luật đầu tư của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, ở mỗi nước, do có đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau nên các quy định cũng có nhiều điểm khác nhau. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 không điều chỉnh các quan hệ đầu tư gián tiếp như: tín dụng quốc tế, viện trợ quốc tế..., các quan hệ đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài.

4. Hoàn cảnh ra đời luật đầu tư nước ngoài

Hoàn cảnh ra đời: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam lần đầu tiên được ban hành năm 1987, sau đó đã được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các năm 1990 và 1992. Luật này cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo thành khung pháp luật cơ bản về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, góp phần tích cực thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, mở mang một số ngành nghề mới, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, đưa lại tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sau 10 năm, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 với tính cách là mô hình pháp lí đầu tiên về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không tránh khỏi những hạn chế nhất định cần được khắc phục trong điều kiện mới, khi đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Nhằm tạo ra môi trường pháp lí an toàn, hấp dẫn để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở pháp lí vững chắc để nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, cải cách thủ tục hành chính, Quốc hội Khoá IX, kì họp thứ 10 đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào ngày 12.11.1996 thay thế Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 và hai Luật sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992.

5. Bố cục và nội dung cơ bản:

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 gồm 6 chương với 68 điều. Chương I - Những quy định chung (gồm 3 điều) quy định về các nguyên tắc, phạm vi, hình thức, lĩnh vực đầu tư, thời hạn đầu tư, phương thức tổ chức đầu tư. Chương II, gồm 16 điều, quy định chỉ tiết về hình thức đầu tư. Chương III gồm 5 điều, quy định về biện pháp bảo đảm đầu tư, trong đó, Nhà nước Việt Nam bảo đảm đối xử công bằng và thoả đáng đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Chương IV, gồm 29 điều, quy định quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Chương V, gồm 11 điều, quy định về quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài, xác định rõ nội dung quản lí nhà nước, thẩm quyền của các cơ quan trung ương và các cơ quan ở địa phương trong việc thực hiện quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài. Chương VI quy định về điều khoản thi hành, gồm 4 điều (từ Điều 65 đến Điều 68). Có thể nói, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nám 1996 đã số: những quy định cụ thể, rõ ràng hơn, nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những mục tiêu trọng điểm, những lĩnh vực ưu tiên phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Tuy nhiên, ngày 09.6.2000, tại kì họp thứ 7 Quốc hội Khoá X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều có hiệu lực kể từ ngày 01.7.2000.

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ngày 29.11.2005 Quốc hội thông qua Luật đầu tư năm ' 2005. Luật này quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư, quản lí nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài.

Đối tượng áp dụng của Luật này là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài; tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư.

Luật này gồm 10 chương, có 89 điều, và có hiệu lực từ ngày 01.07.2006.

6. Hình thức đầu tư

Nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vốn hoặc tài sản của mình để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua các hình thức như sau:
- Thành lập tổ chức kinh tế
- Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế
- Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (hợp đồng PPP)
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC)

7. Thủ tục đầu tư

Theo các chuyên gia về Tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thủ tục đầu tư được tiến hành theo hai hình thức: đầu tư gián tiếp và dự án đầu tư trực tiếp.
i. Đối với hoạt động đầu tư gián tiếp (góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào các tổ chức kinh tế), nhà đầu tư chỉ phải thực hiện các thủ tục đăng ký trong hai trường hợp:
ii. Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài;
iii. Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có trên 51% vốn đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế. Nhà đầu tư nộp hồ sơ tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi tổ chức kinh tế đặt trụ sở chính.
Từ các chuyên gia về Tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đối với dự án đầu tư trực tiếp, tuỳ thuộc vào tính chất, quy mô và điều kiện của từng dự án, dự án đầu tư trước khi được triển khai thực hiện sẽ phải thực hiện một hoặc một số thủ tục sau:
- Xin quyết định chủ trương đầu tư, xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;
- Thành lập tổ chức kinh tế (đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức tổ chức kinh tế);
- Thực hiện thủ tục xin giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, cho thuê lại đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (nếu có);
- Thực hiện thủ tục về xây dựng (nếu có).
Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)