1. Khái niệm về tài nguyên nước

Nước là thành phần môi trường gắn liền với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như sự sống trên hành tinh. Vai trò to lớn của nước đối với đời sống con người cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trinh khai thác, sử dụng, tác động tới nước, tất yếu dẫn tới phải bảo vệ tài nguyên nước bằng pháp luật vói những quy định cụ thể về các nguồn nước và nghĩa vụ bảo vệ tài nguyên nước của cộng đồng.

Tuỳ theo tính chất, đặc điểm, của các nguồn nước cũng như yêu câu quản lí, sử dụng chúng vào những mục đích khác nhau, pháp luật phân chia nguồn nước nói chung và các lưu vực sông thành từng loại cụ thể như: Nước mặt, nước dưới đất, nước sinh hoạt, nước sạch, nguồn nước liên tỉnh, nguồn nước nội tỉnh, nguồn nước liên quốc gia, lưu vực sông liên tỉnh, lưu vực sông nội tỉnh... (Điều 2 Luật tài nguyên nước năm 2012).

2. Ảnh hưởng con người đối với tài nguyên nước

Tài nguyên nước rất đa dạng và có vai trò vô cùng to lớn đối với đời sống con người, tuy nhiên hoạt động của con người đã và đang tác động, gây ảnh hưởng rất xấu tới tài nguyên nước, dẫn tới cần phải có biện pháp kiểm soát ô nhiễm các nguồn nước.

Hoạt động của con người có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng, trữ lượng nước. Những ảnh hưởng đó có thể là tiêu cực hoặc tích cực. Ở đây chúng ta chỉ đề cập những ảnh hưởng mang tính tiêu cực đối với nguồn nước, xác định các nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước, từ đó tìm ra các giải pháp pháp lý có hiệu quả. Những ảnh hưởng từ hoạt động của con người đối với tài nguyên nước được xem xét dưới hai nhóm hoạt động, đó là nhóm hoạt động sản xuất kinh doanh và nhóm các hoạt động trong sinh hoạt.

- Hoạt động sản xuất kinh doanh có đặc thù là sử dụng nguồn nước tập trung với lưu lượng lớn. Điều đó dễ gây tình trạng khai thác quá mức dẫn tói suy thoái, cạn kiện nguồn nước ở những khu vực nhất định (nhất là cạn kiệt các mạch nước ngầm). Đặc biệt, hoạt động sản xuất công nghiệp thải ra lượng lớn nước thải công nghiệp (thường chứa các chất gây ô nhiễm môi trường với mức độ đáng kể) và các chất thải khác. Lượng nước thải và chất thải này thường chưa qua Xử lý hoặc Xử lý chưa đạt tiêu chuẩn, được thải trực tiếp vào các nguồn nước mặt, hoặc ngấm qua đất tới các mạch nước ngầm. Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng ô nhiễm nguồn nước hiện nay ở Việt Nam. Hoạt động sản xuất nông nghiệp, làm muối, nuôi hồng thuỷ sản hiện cũng gây ảnh hưởng xấu tới tài nguyên nước, như gây nhiễm mặn nguồn nước, gây ô nhiễm nguồn nước do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng phân hoá học quá giới hạn cho phép. Các hoạt động du lịch, giải trí, giao thông đường thuỷ cũng gây ô nhiễm môi trường nước ở mức độ nhất định do việc xả chất thải từ các phương tiện giao thông cũng như từ khách du lịch vào nguồn nước.

- Sinh hoạt của con người cũng ảnh hưởng tới chất lượng, ưữ lượng nước ở rất nhiều khía cạnh. Trước hết là hoạt động khai thác nước ngầm một cách tùy tiện, không theo quy hoạch, dẫn tới cạn kiệt nguồn nước, gây sụt đất, lún đất. Mặt khác khai thác nước ngầm ở các khu vực không đảm bảo an toàn vệ sinh (gần nghĩa trang, khu chuồng trại...) dẫn tới việc cung cấp nước đã bị ô nhiễm nguồn nước. Bên cạnh đó là tình trạng ô nhiễm nước từ việc xả thải chất thải sinh hoạt không qua Xử lý vào các nguồn nước mặt. Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là sản xuất công nghiệp vẫn gây ảnh hưởng tới môi trường nước với mức độ lớn hơn các hoạt động sinh hoạt. Vì vậy, với những chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh cần có những giải pháp kiểm soát ồ nhiễm đặc thù.

Ngoài những ảnh hưởng do hoạt động của con người, còn có những ảnh hưởng mang tính tự nhiên gây ô nhiễm, suy thoái nước như hiện tượng động đất, núi lửa phun, lũ lụt, sóng thần, hạn hán... Do đó, bảo vệ, phát triển nguồn nước cần phải xem xét các nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan gây ô nhiễm nguồn nước để có giải pháp thích hợp.

3. Luật tài nguyên nước là gì?

Luật tài nguyên nước là văn bản luật chứa đựng có hệ thống các quy phạm pháp luật quy định và điều chỉnh việc quản lí, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.

Luật tài nguyên nước được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X, kì họp thứ 3 thông qua ngày 20.5.1998, có hiệu lực kể từ ngày 01.01.1999. Luật khẳng định tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lí. Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nước biển, nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa được quy định tại các văn bản pháp luật khác. Đối với nước khoáng, nước nóng thiên nhiên thì do Luật khoáng sản quy định. Luật tài nguyên nước quy định phạm điều chỉnh và quy định quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc quản lí tài nguyên nước; xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi cá nhân trong việc bảo vệ tài nguyên nước; xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia các quan hệ phát sinh từ việc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước; quy định các tiêu chuẩn về nước sạch để trên cơ sở đó xác định mức độ ô nhiễm, mức độ suy thoái môi trường nước, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong việc bồi thường thiệt hại, khôi phục hiện trạng môi trường.

4. Những quy định cơ bản của Luật tài nguyên nước 

Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tổn tại và phát triển bền vững của đất nước, mặt khác, nước cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường. Xét về thực trạng, tài nguyên nước của Việt Nam đang ở trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng do các nguyên nhân đốt phá, khai thác rừng bừa bãi, nạn khai thác khoáng sản ở đầu nguồn; việc khai thác các nguồn nước một cách quá mức và không đúng quy định, kĩ thuật; nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và các chất thải lỏng khác không được xử lí trước khi thải ra các nguồn nước đã gây nên ô nhiễm; trong suốt một thời gian dài, pháp luật bảo vệ tài nguyên nước không được xây dựng đồng bộ, chưa có luật riêng, dẫn đến tình trạng việc quản lí nhà nước đối với tài nguyên nước phân tán, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn nhau. Trong tình hình đó, để nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước, đề cao trách nhiệm của các chủ thể pháp luật tài nguyên nước trong bảo vệ, khai thác tài nguyên nước, Luật tài nguyên nước được ban hành.

Luật tài nguyên nước có 10 chương với 75 điều:

Chương I - Những quy định chung, gồm 9 điều, quy định về quyền sở hữu, sử dụng tài nguyên nước, nguyên tắc quản lí, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, chính sách quản lí, đầu tư phát triển tài nguyên nước, quy định các hành vi bị nghiêm cấm.

Chương II - Bảo vệ tài nguyên nước, gồm 10 điều, quy định về trách nhiệm, phương thức bảo vệ tài nguyên nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được phép xã nước thải.

Chương IIl - Khai thác, sử dụng tài nguyên nước, gồm 16 điều, quy định các nguyên tắc, phương thức, biện pháp trong việc điểu hoà, phân phối nguồn nước; quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên nước, quản lí, cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước...

Chương IV - Phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ lụt và tác hại do nước gây ra, gồm 11 điều, quy định về trách nhiệm, cách thức, phương pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt và tác hại khác do nước gây ra.

Chương V - Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, gồm 6 điều, xác định rõ trách nhiệm, phương án, phạm ví bảo vệ công trình thuỷ lợi, bảo vệ đê điều, quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lí, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi.

Chương VI - Quan hệ quốc tế về tài nguyên nước, gồm 4 điều, quy định về nguyên tắc áp dụng trong quan hệ quốc tế, yêu cầu về hợp tác và phát triển tài nguyên nước, giải quyết tranh chấp về nguồn nước quốc tế.

Chương VII - Quản lí nhà nước về tài nguyên nước, gồm 9 điều, quy định nội dung, thẩm quyền quản lí nhà nước về tài nguyên nước, giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước.

Chương VIII - Thanh tra chuyên ngành tài nguyên nước, gồm 4 điều.

Chương IX - Khen thưởng và xử lí vi phạm gồm 2 điều. Chương X - Điều khoản thi hành gồm 4 điều. Luật tài nguyên nước năm 1998 ra đời đã cùng với một số văn bản pháp luật khác như Luật thuỷ sản, Bộ luật hàng hải, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật bảo vệ môi trường... và hệ thống các văn bản của Chính phủ ban hành liên quan đến tài nguyên nước tạo thành hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước, góp phần bảo vệ có hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá - yếu tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống.

5. Hiện trạng sử dụng tài nguyên nước ở nước ta hiện nay

Lượng nước sử dụng hằng năm cho nông nghiệp Khoảng 93 tỷ m3, cho công nghiệp Khoảng 17,3 tỷ m3, cho dịch vụ là 2 tỷ m3, cho sinh hoạt là 3,09 tỷ m3. Hiện nay, nước ta với tồng chiều dài các sông và kênh Khoảng
40000km, đã đưa và khai thác vận tải 1500 km, trong đó quản lý trên 800km. có những sông suối tự nhiên, thác nước,… được sử dụng làm các điểm tham quan du lịch.

Về nước mặt, nước lợ thì hiện nay mới sử dụng Khoảng 12,5% diện tích mặt nước lợ, nước mặn và 31% diện tích mặt nước ngọt. Việt Nam có trên 240 nhà máy cấp nước đô thị với tổng công suất thiết kế là 3,42 triệu mét khối/ ngày. Trong đó 92 nhà máy sử dụng nguồn nước mặt với tổng công suất Khoảng 1,95 triệu mét khối/ngày và 148 nhà máy sử dụng nguồn nước dưới đất với tổng công suất Khoảng 1,47 triệu mét khối/ngày. Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do tốc độ tăng dân số nhanh và đô thị hóa. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư đang gây ô nhiễm trầm trọng ở các đô thị.

Tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước vẫn tiếp tục gia tăng trong khi cơ chế kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm hoạt động chưa hiệu quả , các hoạt động chặt phá rừng, tác động của biến đổi khí hậu đang tác động tiêu cực đến tài nguyên nước đang ngày càng rõ rệt hơn. Thiên tai bão, lũ, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng, nước biển dâng,…đang ngày càng gia tăng cả về mức độ nghiêm trọng và phạm vi ảnh hưởng. Chất lượng nước ở vùng hạ lưu của các con sống chính bị ô nhiễm nặng nề, đặc biệt là các con sông ở trong thành phố. Lụt lội xảy ra , cuốn theo các chất độc hại, hóa chất dù đã được bảo quản trước đo, cuốn theo các loại rác thải,… từ đó làm mất sự trong sạch của nguồn nước. Việc nuôi trồng thủy sản ồ ạt, sử dụng hóa chất quá nhiều, thiếu quy hoạch, không tuân theo các tiêu chuẩn, yêu cầu về kỹ thuật đã gây tác động tiêu cực, tác động trực tiếp tới môi trường nước. Trong sản xuất nông nghiệp, sử dụng quá nhiều, quá mức cho phép các loại thuốc bảo vệ thực vật làm cho nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm…

Môi trường nước ở khu công nghiệp ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải trong hoạt động sản xuất. Hàm lượng nước thải của các ngành công nghiệp dệt may, công nghiệp giấy có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần và các chất khác vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề.

Mâu thuẫn, tranh chấp trong sử dụng nước tiếp tục gia tăng; nguồn lực đầu tư cho quản lý, bảo vệ tài nguyên nước không đáp ứng yêu cầu; hệ thống pháp luật về tài nguyên nước còn thiếu đồng bộ và việc triển khai thực hiện chưa đạt hiệu quả như mong muốn.