Luật thuế thu nhập doanh nghiệp là đạo luật quy định chế độ thu thuế đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập, được Quốc hội Khoá IX, kì họp thứ 11 thông qua ngày 10.5.1997, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.1999.

Luật được ban hành nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và động viên một phần thu nhập vào ngân sách, bảo đảm sự đóng góp công bằng, hợp lí giữa các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa các tổ chức, cá nhần trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất, kinh doanh dịch vụ có thu nhập.

Phạm vi điều chỉnh của Luật là quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập.

Cùng với việc ban hành các luật thuế để tiếp tục thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá VIII, kì họp thứ 4 năm 1989 về cải cách chế độ thu ngân sách nhà nước, ngày 30.8.1990 Luật thuế lợi tức được ban hành và được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 1993. Luật thuế lợi tức năm 1990 đã phát huy vai trò là công cụ thu ngân sách nhà nước, nhất thể

hoá chế độ thu thuế lợi tức áp dụng chung cho các cơ sở kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, Luật này bộc lộ một số hạn chế cơ bản như: tên thuế lợi tức theo quy định của Luật này không phản ánh được tính chất của nguồn tài chính là nhiều hình thức thu nhập của các cơ sở sản xuất, kinh doanh cần được đánh thuế; các bậc thuế suất theo quy định của Luật thuế lợi tức có sự phân biệt với khoảng cách lớn so với các bậc thuế lợi tức áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc diện nộp thuế lợi tức được quy định trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 được ban hành là một bước phát triển quan trọng trong việc thực hiện chính sách công bằng, hợp lí đối với nguồn thu ngân sách nhà nước từ thu nhập của các cơ sở kinh doanh. Luật gồm Lời nói đầu, 8 chương với 34 điều và có những nội dung cơ bản sau: 1) Quy định đối tượng nộp thuế, đối tượng không thuộc diện nộp thuế; các nguyên tắc thu, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp;

2) Quy định các loại thu nhập chịu thuế, cách xác định thu nhập chịu thuế, các mức thuế suất thu thuế thu nhập doanh nghiệp;

3)Quy định về kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp;

4) Quy định về khen thưởng, xử lí vi phạm; khiếu nại, thời hiệu giải quyết khiếu nại về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 đặt cơ sở pháp lí quan trọng cho việc chấm dứt sự phân biệt trong việc thu thuế thu nhập giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh tong nước và nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Qua 6 năm thi hành, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 đã được tổng kết, xem xét các mặt được và chưa được, thực tế cho thấy, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 đã có nhiều vấn đề về kĩ thuật lập pháp, các chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp cần được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản và xây dựng thành một Luật mới thay thế. Ngày 17.6.2003, Quốc hội Khóa XI kì họp thứ 3 đã thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2004.