1. Ly hôn trong trường hợp bị tuyên bố mất tích?

Chào luật sư. Tôi muốn được luật sư tư vấn giúp đỡ tôi. Tôi và chồng tôi kết hôn với nhau vào năm 2000. Một thời gian sau đó, tầm 4 năm sau đó thì chồng tôi mất tích, không hề liên lạc gì với tôi. Trước đó chúng tôi có cãi vã nhau, tôi còn nghi ngò chồng tôi có bồ bịch bên ngoài. Anh ấy không liên lạc với tôi, nhưng theo tôi biết thì anh ấy có liên lạc với bố mẹ đẻ của mình.
Tôi có qua nhà bố mẹ chồng để hỏi rõ tình hình, xin địa chỉ chồng tôi mà gia đình nhà chồng cương quyết không cho. giờ tôi muốn ly hôn để kết hôn với người khác, vậy thủ tục tôi cần làm là gì?
Mong được luật sư giải đáp.

Trả lời:

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, thì chồng bạn đi nước ngoài từ năm 2004 đến nay. Trong khoảng thời gian này, chồng bạn không liên lạc thông báo với bạn, chỉ liên lạc với gia đình bố mẹ đẻ của mình, bạn cũng không biết địa chỉ cụ thể của chồng mình. Như vậy, trường hợp này bạn có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn đơn phương theo khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ngoài ra, căn cứ theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tuyên bố một người là mất tích:

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Như vậy, để tiến hành thủ tục ly hôn, thì trước tiên bạn cần làm đơn yêu cầu tuyên bố chồng bạn mất tích gửi đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú trước khi mất tích. Hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau:

– Đơn yêu cầu (theo mẫu của tòa án)

– Các thông tin, giấy tờ chứng minh những người thân đã thông báo tìm kiếm nhưng đều không biết thông tin về người mất tích

– Xác nhận của chính quyền địa phương về việc người đó đã rời khỏi địa phương, rời khỏi nơi cư trú cuối cùng đã có thời hạn từ 2 năm trở lên. Trong thời hạn 2 năm đó không ai gia đình, người thân biết được nơi cư trú cuối cùng của người Bị Tuyên bố mất tích

– Các giấy tờ tài liệu về nhân thân của người có yêu cầu chứng minh có Quyền và nghĩa vụ liên quan…đến người bị tuyên bố mất tích.

Trường hợp này, sau khi nhận được hồ sơ đầy đủ thì tòa án sẽ thụ lý, xem xét và ra quyết định tuyên bố một người mất tích. Sau khi có quyết định tuyên bố chồng bạn mất tích, thì bạn sẽ làm thủ tục ly hôn đơn phương, bao gồm các giấy tờ sau đây:

- Đơn xin ly hôn.

- Giấy chứng nhận kết hôn( bản chính).

- Tuyên bố của Tòa án về việc chồng mất tích.

– Giấy khai sinh của con chung (Bản sao có chứng thực)

– Giấy tờ liên quan đến tài sản chung của vợ chồng (Bản sao có chứng thực).

Tòa án có thẩm quyền giải quyết là tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú cuối cùng trước khi mất tích.

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

2. Nghĩa vụ trả nợ chung và chia tài sản khi ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê ! Luật sư cho tôi hỏi. Tôi và chồng lấy nhau được 4 năm, chưa có con chung. Tài sản chung giờ là chiếc xe ô tô mua trả góp chạy taxi. Hiện tại xe đứng tên công ty taxi Bắc Á (có hợp đồng mua bán), tổng giá trị xe là 477.000.000. Chúng tôi đã trả hơn 100 triệu. Trong quá trình mua xe tôi có đứng ra vay tiền cho chồng tôi mua xe. Và giờ tôi muốn ly hôn với chồng tôi. Nhưng tôi muốn chồng tôi trả cho tôi những số tiền mà tôi đã đứng ra vay hộ.
Vậy luật sư cho tôi hỏi tôi cần phải chuẩn bị những gì, và pháp luật có giúp tôi để lấy lại những khoản nợ kia không ?
Cảm ơn luật sư!

>> Tổng đài tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

Theo Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: thì vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ chung về tài sản do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

Giao dịch dân sự được thực hiện ở đây là hợp đồng vay tài sản được bạn xác lập. Mục đích của khoản vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là một trong những căn cứ để xác định: vợ/chồng có phải liên đới chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ hay không. Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đứng ra vay tiền để mua ô tô là tài sản chung của vợ chồng, dù bạn đơn phương vay tiền không có chữ ký hay sự đồng ý của chồng thì đây cũng là "nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình", như vậy, chồng bạncũng phải có nghĩa vụ liên đới trả khoản nợ đó cùng với bạn, và như vậy, bạn có quyền lấy lại số tiền tương ứng với nghĩa vụ mà chồng bạn phải thực hiện. Bạn không có nghĩa vụ phải chứng minh khoản nợ này là tài sản chung hay riêng, người có nghĩa vụ chứng minh để không phải trả nợ sẽ là chồng của bạn.

Tuy nhiên, để đảm bảo quyền và lợi ích của mình, bạn có thể chuẩn bị chứng cứ, chứng minh như lời khai của người cho vay, giấy tờ vay, mục đích vay...

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

3. Ly hôn nhưng người vợ không chịu ký đơn ly hôn?

Kính chào luật sư! Chồng đưa đơn ly hôn mà vợ có mặt tại tòa không con cái, có tài sản nhưng người vợ không chịu ký đơn thì tòa xét sử ra sao ?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: P.H

Tư vấn luật hôn nhân gia đình về việc xin ly hôn khi chung sống 3 năm mà không có con ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như nội dung thư mà bạn yêu cầu tư vấn thì hiện nay, bạn đang có nhu cầu xin ly hôn nhưng vợ bạn lại không chịu ký vào đơn xin ly hôn. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì bạn có thể ly hôn đơn phương khi có đủ căn cứ sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Để tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương, bạn cần chuẩn bị hồ sơ gồm các loại giấy tờ sau đây:

- Giấy đăng ký kết hôn (bản chính);

- Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

- Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

- Đơn xin ly hôn (Theo mẫu).

Đơn xin ly hôn trong trường hợp ly hôn đơn phương của bạn không yêu cầu bạn có chữ kí của cả hai vợ chồng mà chỉ cần có chữ ký của bạn.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ các loại giấy tờ như đã nêu trên, bạn có thể nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú, làm việc của vợ bạn (nếu vụ việc của bạn không có yếu tố nước ngoài) theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

>> Xem thêm:  Có thể ủy quyền để ly hôn được không ? Những lưu ý khi ly hôn ?

4. Chung sống 3 năm mà không có con có ly hôn được không ?

Thưa luật sư, xin Luật sư cho e hỏi: E kết hôn được gần 3 năm chưa có con cái. Cuộc sống sau hôn nhân không được hạnh phúc, chồng lớn hơn em 4 tuổi. Sống với nhau 3 năm mà chồng em không có định hướng gì về tương lai, dường như không có ý định xây dựng tổ ấm. Thường xuyên đi chơi thâu đêm, sống thiếu trách nhiệm. Nhưng trong quá trình sống với nhau chưa sử dụng bạo lực với vợ.
Em muốn ly hôn liệu có được không ? Khi nào thì được ly hôn theo yêu cầu của một bên ?
Xin luật sư tư vấn giúp ạ. Em xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định Ly hôn theo yêu cầu của một bên:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lầm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng là hôn nhân thuộc một trong các trường hợp sau:

- Vợ, chồng không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Người nào chỉ biết bổn phận của người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng;

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau;

- Vợ chồng không chung thủy với nhau như quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục quan hệ ngoại tình.

Đời sống chung không thể kéo dài được, được hiểu là: thực tế đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần, nhưng vẫn có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm.

Mục đích của hôn nhân không đạt được là trường hợp tình nghĩa vợ chồng không còn, không bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.

Căn cứ vào cuộc hôn nhân của mình bạn có thể đưa ra những nguyên nhân, biểu hiện về việc chồng bạn không làm tròn nghĩa vụ của người chồng, dẫn đến tình trạng hôn nhân không thể kéo dài. Về việc chồng bạn thường xuyên đi chơi đêm, không quan tâm chăm lo đến đời sống của vợ chông (bao gồm kinh tế và tinh thần)..cuộc hôn nhân giữa bạn và chồng bạn có những dấu hiệu không thể kéo dài được nữa (như sống ly thân, thường xuyên cãi cọ, bỏ mặc nhau khi khó khăn ốm đau...)

Dựa trên những căn cứ đó, bạn có thể gửi Yêu cầu ly hôn của mình đến Tòa án quận/huyện nơi chồng bạn cư trú.

>> Xem thêm:  Phân chia tài sản chung theo quy định nào ? Chia tài sản chung của vợ chồng là bất động sản ?

5. Chia tài sản ly hôn khi vợ chỉ ở nhà nội chợ?

Kính gửi Luật sư, tôi có một vài vấn đề muốn được Luật sư tư vấn như sau: Tôi lập gia đình năm 2014, trước khi kết hôn 2 vợ chồng không có tài sản riêng. Sau khi kết hôn gia đình bên nội tích góp cho 2 vợ chồng khoảng 100 triệu sau đó tôi mượn sổ đỏ của em trai tôi vay thêm 200 triệu nữa để mua 1 mảnh đất trị giá 300 triệu. Khi mua xong đất tôi lại dùng sổ đỏ của mình để vay thêm 200 triệu và vay thêm bạn bè, họ hàng 100 triệu nữa để xây nhà. Như vậy tổng tài sản sau khi kết hôn là một căn nhà trị giá 700 triệu. Nợ hàng tháng phải trả cho ngân hàng là 11 triệu trong thời hạn 5 năm (đã trả được 1 năm). Luật sư tư vấn cho tôi 3 câu hỏi như sau: Vợ tôi không đi làm (không có thu nhập) nên không có tiền để trả nợ, nợ ngân hàng hằng tháng do 1 mình tôi xoay xở để trả nợ.
Vậy nếu vợ chồng tôi ly dị thì số tài sản cũng như số nợ trên được phân chia như thế nào? Nếu tôi lấy căn nhà trên và tiếp tục chịu trách nhiệm trả nợ số còn lại (4 năm) thì căn nhà trên sẽ được phân chia như thế nào? Vợ chồng tôi có 1 con trai chung, tôi không muốn phân chia cho ai nuôi mà 2 vợ chồng có trách nhiệm nuôi con thì có được không? (vì 2 gia đình nội và ngoại ở gần nhau).
Xin cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Tại Điều 29 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng như sau:

1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, trong trường hợp này, ngôi nhà của vợ chồng bạn là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên được xem là tài sản chung. Và về nguyên tắc, pháp luật quy định vợ chồng bình đẳng với nhau cả về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản không phân biệt lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Cho nên, dù vợ bạn không đi làm nhưng ngôi nhà vẫn được xem là tài sản chung của vợ chồng bạn.

Do đó, theo nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng sau khi li hôn quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì:

....2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Như vậy, tòa án sẽ căn cứ vào công sức đóng góp của cả hai bên cũng như lao động có thu nhập của vợ chồng bạn để phân chia tài sản chung là ngôi nhà mà bạn đã trình bày.

Về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 60 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

Do đó, bạn và vợ bạn đều phải có nghĩa vụ như nhau trong việc trả nợ số tiền mà hai bạn đã vay.

Về vấn đề bạn muốn lấy căn nhà trên và tiếp tục chịu trách nhiệm trả nợ số còn lại (4 năm) thì bạn phải thỏa thuận với vợ bạn về việc phân chia tài sản là căn nhà và nghĩa vụ trả nợ như vậy. Nếu không thỏa thuận được thì tài sản sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật như đã trình bày ở trên.

Về vấn đề quyền nuôi con sau khi ly hôn thì Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định:

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Như vậy, nếu vợ chồng bạn đã thỏa thuận được với nhau về việc không phân chia nuôi con mà cả hai người đều có trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc con thì sẽ thực hiện theo thỏa thuận. Còn nếu không thỏa thuận được thì tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi tốt nhất cho con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: L[email protected] để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vợ ngoại tình thì bị xử phạt như thế nào ? Nghi ngờ vợ ngoại tình có ly hôn được không ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tuyên bố mất tích và tuyên bố chết theo quy định của pháp luật

Trả lời:

Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. (Điều 68 BLDS).

Căn cứ vào quy định này, toà án có thể tuyên bố một người mất tích khi có các điều kiện sau:

– Biệt tích đã hai năm liền trở lên, không có một tin tức nào về người đó còn sống hay đã chết. Pháp luật không quy định rõ phạm vi không gian cũng như chủ thể về việc nhận biết các tin tức này nhưng căn cứ vào Điều 64 BLDS có thể xác định:

+ Về không gian, tại nơi cư trú cuối cùng của người đó, là nơi cư trú của cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự.

+ Về chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố một người mất tích đó là người có quyền, lợi ích liên quan, đây là những người có mối liên hệ (theo quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ hành chính, quan hệ lao động, quan hệ dân sự hoặc các quan hệ khác) mà quyền lợi của họ bị ảnh hưởng do sự vắng mặt của chủ thể. Theo nguyên tắc, người nào có quyền về tài sản liên quan đến người biệt tích sẽ bị thiệt hại nếu không tuyên bố người đó mất tích thì họ có quyền yêu cầu toà án tuyên bố người đó mất tích.

Những người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu toà án thông báo, tìm kiếm người vắng mặt. Toà án có thể tự mình thông báo hoặc yêu cầu những người này thông báo. Cách thức, biện pháp thông báo được quy định trong luật tố tụng dân sự, như phạm vi thông báo, phương tiện thông báo… Sau khi đã thông báo với thời hạn luật định mà vẫn không có tin tức gì về người đó còn sống hay đã chết.

+ Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

– Từ ngày biết được tin tức cuối cùng của người đó thì người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu toà án tuyên bố người đó mất tích. Theo nguyên tắc chung của luật tố tụng dân sự, toà án chỉ xem xét và giải quyết khi đương sự có yêu cầu và trong phạm vi yêu cầu đó. Bởi vậy, khi xem xét yêu cầu của đương sự, toà án phải kiểm tra các điều kiện cần thiết và nếu thấy đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy định, toà án ra quyết định tuyên bố người biệt tích đó là mất tích.

Hậu quả của việc tuyên bố mất tích

Việc tuyên bố một người mất tích kéo theo những hậu quả pháp lí nhất định: Tạm thời đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyến bố là mất tích, tuy nhiên quyết định này không làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ. Tài sản của người bị tuyên bố mất tích được quản lí theo quyết định của toà án được quy định tại các điều 65, 66, 67, 69 BLDS về Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú, Quyền và nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú và Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích

Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là mất tích xin li hôn thì toà án giải quyết cho li hôn.

Câu hỏi: Thủ tục tuyên bố 1 người đã chết theo quy định của pháp luật

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 71 BLDS, trong bốn trường hợp sau, toà án có thể tuyên bố một người là đã chết.

– Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống. Trong trường hợp này việc tuyên bố một người bị mất tích tạm dừng năng lực chủ thể của họ được diễn ra theo hướng chấm dứt tư cách chủ thể của người đó. Sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của toà án có hiệu lực pháp luật mà không cần đòi hỏi thêm một thủ tục thông báo nào (của toà án cũng như người có quyền, lợi ích liên quan) toà án có thể tuyên bố người đó là đã chết.

– Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống. Ngày chiến tranh kết thúc có thể quy định khác nhau: Ngày chiến thắng, ngày tuyên bố chấm dứt chiến tranh, ngày kí hiệp định đình chiến, hòa bình, ngày tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh… tùy theo từng hoàn cảnh và các cuộc chiến tranh cụ thể mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, hoặc được xác định theo thông lệ quốc tế.

– Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống. Người bị tuyên bố là đã chết phải ở trong số người bị tai nạn (cư dân trong các vùng bị động đất, núi lửa, sóng thần; hành khách trong các tai nạn giao thông đường thủy, đường bộ, đường hàng không; người trong hầm lò bị sập, trên tàu bị đắm, bị lốc cuốn… mà không xác định được hoặc do không tìm thấy thi thể nạn nhân).

– Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Khi một người biệt tích thì phải áp dụng các quy định về thông báo, tìm kiếm giống như trường hợp tìm kiếm người mất tích. Sau hai năm có thể tuyên bố mất tích, sau năm năm có thể tuyên bố là đã chết. Nếu có tuyên bố mất tích thì phải áp dụng quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 71 BLDS, nếu không tuyên bố mất tích thì biệt tích năm năm liền trở lên toà án có thể tuyên bố một người là đã chết.

+ Thời hạn 05 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Tuỳ từng trường hợp, toà án xác định ngày chết của người đó trong bản án hoặc quyết định của toà án. Nếu không xác định ngày người đã chết trong bản án hoặc quyết định của toà án thì ngày chết là ngày bản án hoặc quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật. Thông thường, đối với người biệt tích trong các tai nạn, thảm họa, thiên tai thì ngày chết là ngày xảy ra thảm họa, thiên tai đó.

Câu hỏi: Thủ tục hủy bỏ 1 người mất tích hoặc đã chết

Trả lời:

Hủy bỏ việc quyết định tuyên bố mất tích

Việc tuyên bố một người là mất tích chỉ tạm dừng năng lực chủ thể của người đó. Việc tạm dừng này có thể thay đổi theo một trong hai hướng: Phục hồi năng lực chủ thể hoặc chấm dứt tư cách chủ thể. Việc chấm dứt tư cách chủ thể được diễn ra khi có tin tức rằng họ đã chết hoặc bị tuyên bố là đã chết. Phục hồi tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là mất tích xảy ra trong hai trường hợp:

– Người bị tuyên bố mất tích trở về.

– Có tin tức chứng tỏ người đó còn sống.

Khi có một trong hai trường hợp đó thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó mất tích. Người bị tuyên bố mất tích trở về có quyền yêu cầu người quản lí tài sản trả lại tài sản cho mình. Tuy nhiên, quyết định li hôn của vợ hoặc chồng người bị tuyên bố là mất tích vẫn có hiệu lực pháp luật.

Hủy bỏ quyết định tuyên bố chết

Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.

Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ trường hợp sau đây:

– Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật;

– Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.

Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn.

Trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của BLDS và Luật hôn nhân và gia đình.

Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.