1. Mẫu đơn xin hoãn lịch triệu tập của cơ quan điều tra

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu đơn xin hoãn lịch triệu tập của cơ quan điều tra áp dụng trong trường hợp cơ quan điều tra gửi thư mời hoặc giấy triệu tập nhưng Quý khách hàng không thể có mặt đúng lịch được.

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

---------------------------------

>> Tải ngay: Mẫu đơn đề nghị hoãn lịch triệu tập của cơ quan điều tra

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-------***------

ĐƠN ĐỀ NGHỊ

(v/v Hoãn lịch triệu tập của cơ quan điều tra)

Kính gửi: CƠ QUAN AN NINH ĐIỀU TRA – BỘ CÔNG AN

Địa chỉ: Số 7, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Nguyễn Du, Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Tôi ……………………………………Giới tính:………………………………………….

Dân tộc: Kinh Quốc tịch: Việt Nam

CMND số: …………… Cấp ngày: …./…/20…. Nơi cấp: CA tỉnh………………………

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn ……., Xã ……, Huyện …….., Tỉnh …….………

Chỗ ở hiện tại: Thôn ……..…., Xã ……..…, Huyện …………………., Tỉnh ……………

Ngày …. tháng …. năm 20…., Tôi có nhận được giấy triệu tập của Quý cơ về việc trả lời đơn tố cáo của Công ty TNHH ...

Do mới sinh con nên sức khỏe không đảm bảo (Tôi xin gửi theo giấy chứng sinh). Tôi ủy quyền cho Ông ……………. thay mặt tôi giải trình toàn bộ các vấn đề pháp lý liên quan đến vấn đề này. Trong trường hợp cần thiết tôi khi sức khỏe đảm bảo tôi sẵn sàng có mặt theo giấy triệu tập của Quý cơ quan.

Trân trọng cảm ơn!

Người làm đơn

------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

2. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

3. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

4. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án;

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;

>> Xem thêm:  Quyền công dân trong quá trình điều tra vụ án hình sự là gì ? Cơ quan điều tra có nghĩa vụ, trách nhiệm gì ?

2. Công an xử lý như vậy là đúng hay sai ?

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề không hiểu rõ về vi phạm pháp luật về ma túy. Ngày 20/06/2016 tôi bị công an thị xã đi tuần chặn lại và kiểm tra. Khi đó, trong xe của tôi công an phát hiện một số dụng cụ sử dụng cho ma túy đá và có một số lượng nhỏ ma túy đá khoảng dưới 1gam ma túy đá.
Công an đã đưa tôi về phường lấy lời khai và đến sáng lúc 11h00 ngày 21/06/2016 thì công an cho tôi về hẹn ngày 25/06/2016 lên để giải quyết và tạm giữ toàn bộ giấy tờ cá nhân gồm chứng minh thư nhân dân, thẻ ATM, điện thoại di động và xe của tôi. Tôi là người ngoài tỉnh đi làm xa chứ không phải ở tỉnh này và địa phương này.
Công an xử lý như vậy là đúng hay sai? Tôi mới vi phạm lần đầu nên không biết rõ về tội sử dụng và tàng trữ ma túy đá. Tôi có phải chịu hình phạt gì không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Công an xử lý như vậy là đúng hay sai?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sư trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy:

Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Căn cứ theo Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng các tội phạm về ma tuý hướng dẫn áp dụng Chương XVIII:

“Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 do Bộ Công an – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp ban hành, tại điểm 3.6 khoản 3 Mục II:

3.6. Người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng dưới một gam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng dưới không phẩy một gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng dưới một kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng dưới năm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười mililít trở xuống.

Như vậy, căn cứ vào tất cả những quy định trên của pháp luật, bạn phạm tội lần đầu, lượng ma túy mang theo không lớn (dưới 01 gam) nên bạn chỉ bị xử phạt hành chính,

Thứ hai, về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy:

"Điều 254. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Có số lượng từ 06 đơn vị đến 19 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vận chuyển với số lượng 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên;

e) Vận chuyển qua biên giới;

g) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Về tội này, để xét mức độ hành vi mà bạn thực hiện, thì cần phải xem xét việc bạn vận chuyển dụng cụ sử dụng ma túy này là cho bản thân mình sử dụng, hay để buôn bán? Bởi tại mục 5.5 Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTP:

"5.5. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:

a) Chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán các phương tiện, dụng cụ là nhằm để dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;

b) Người lần đầu sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy và chỉ dùng các phương tiện, dụng cụ này để cho bản thân họ sử dụng trái phép chất ma túy, thì chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính. Trường hợp đã bị xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự; "

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn quản trị tài chính cho doanh nghiệp

3. Công an yêu cầu chuộc điện thoại như vậy có đúng không ?

Thưa luật sư, Tối hôm qua đứa em của cháu bị người ta đánh sau đó em cháu dùng hung khí đánh lại nhưng chưa đánh được thì bị công an xã bắt lên xã sau khi làm bản tường trình xong thì thu điện thoại của em cháu và bảo em cháu về đưa 1 500 000 để lấy điện thoại về. Như vậy các cô các chú cho cháu hỏi công an làm như vậy có đúng không? Em của cháu phạm tội gì? Áp dụng xử phạt trong trường hợp này như thế nào ?
Cháu rất mong nhận được sự tư vấn của các cô các chú. Cháu xin chân thành cảm ơn!

Cơ quan công an làm sai có phải chịu trách nhiệm không?

Luật sư tư vấn Luật Hình sự: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 của Quốc hội thì các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

"1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);

đ) Trục xuất."

Như vậy, dựa theo quy định trên, cơ quan công an chỉ được tịch thu điện thoại khi đây là tang vật vi phạm hành chính. Tuy nhiên, theo như phần trình bày của bạn, đây là sự việc đánh nhau giữa hai bên mà không có liên quan gì đến chiếc điện thoại của em bạn. Trong trường hợp này, để xử phạt hành vi đánh nhau giữa em bạn và nhóm người kia thì cơ quan công an lựa chọn một trong các hình thức xử phạt vi phạm hành chính như trên, nhưng không được giữ điện thoại của em bạn và đòi lấy tiền chuộc như trên.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình về vi phạm quy định trật từ nơi công cộng thì:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự xã hội

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

b) Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;

d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;

đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;

e) Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác;

g) Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”;

h) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác."

Theo như phần bạn trình bày, nếu như việc đánh nhau giữa em bạn và những người kia chưa có thương tích gì, chưa cấu thành tội phạm hình sự về tội phạm cố ý gây thương tích thì trường hợp này sẽ được xác định là hành vi vi phạm quy định về trật tự xã hội. Theo đó, mức xử phạt hành chính lúc này là phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi đánh nhau hoặc xúi giục đánh nhau. Và việc xử phạt vi phạm hành chính này phải được lập thành biên bản, trong đó ghi rõ lý do xử phạt, căn cứ xử phạt và mức xử phạt vi phạm hành chính.

Như vậy, hành vi trên của công an là không đúng, lúc này, theo quy định tại Điều 15 Luật xử lý vi phạm hành chính có quy định:

"Điều 15. Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

2. Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

3. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính bị khiếu nại, khởi kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật."

Vì việc đòi hỏi của cơ quan công an là trái với quy định của pháp luật, nên trong trường hợp này bạn có quyền được khiếu nại theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo. Lúc này, bạn có thể khiếu nại lần thứ nhất, khiếu nại trực tiếp lên cơ quan công an đã xử phạt bạn.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Lấy lời khai như thế nào là hợp pháp theo quy định của pháp luật hiện nay ?

4. Cơ cấu tổ chức của Bộ Công an

Tổng cục An ninh được tách thành hai tổng cục về an ninh đối nội và an ninh đối ngoại. Tổng cục Cảnh sát tách thành ba tổng cục, trong đó mảng điều tra hình sự được chuyên môn hóa, nâng thành Tổng cục Phòng chống tội phạm.

Chính phủ đã ban hành nghị định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức ngành của Bộ Công an để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới.

Theo nghị định mới, các mảng cảnh sát giao thông, cảnh sát quản lý hành chính (hộ khẩu), phòng cháy chữa cháy, huấn luyện và khai thác chó nghiệp vụ… sẽ được gom vào một tổ chức mới là Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính.

Mảng quản lý nhà nước về thi hành án hình sự, về tạm giam, tạm giữ… sẽ thuộc phụ trách của Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. Hai tổng cục hậu cần và kỹ thuật cũ được gộp làm một với tên gọi Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật. Ngoài ra, lập thêm một bộ tư lệnh để điều phối hoạt động của các trung đoàn cảnh sát cơ động.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Các đơn vị khác của Bộ Công an vẫn được giữ nguyên, gồm Tổng cục Xây dựng lực lượng, Tổng cục Tình báo, Bộ Tư lệnh cảnh vệ.

Như vậy, Bộ Công an có 8 tổng cục, hai bộ tư lệnh - thay đổi lớn so bộ máy gồm 6 tổng cục và một bộ tư lệnh như trước đây.

Trong khi chờ Thủ tướng bổ nhiệm các tổng cục trưởng, Bộ trưởng Bộ Công an đã giao một số tướng công an phụ trách các đơn vị này. Trung tướng Phạm Quý Ngọ, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát cũ, được giao phụ trách Tổng cục Phòng chống tội phạm. Theo ông Ngọ, tổng cục này có ba cục mới: Cục Truy nã, truy tìm; Cục Đấu tranh chống tội phạm công nghệ cao và Cục Kỹ thuật nghiệp vụ - đơn vị đặc biệt trước chỉ có bên Tổng cục An ninh.

Tướng Ngọ cho rằng, việc truy nã, truy tìm hiện được giao tản mát cho hai bộ phận truy nã trong Cục Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy và Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội. Vì vậy, cần được tổ chức lại, nâng lên cấp cục.

Tương tự, trước nhu cầu đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao, đơn vị chuyên trách cấp phòng thuộc Cục Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và chức vụ sẽ được nâng lên cấp cục. Mảng này, ở địa phương, dự kiến trước mắt 5 thành phố lớn (Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) sẽ lập thêm phòng. Ở các tỉnh khác, nếu cần thiết thì lập đơn vị cấp đội, nằm trong các Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và chức vụ.

Trung tướng Cao Ngọc Oánh, Tổng cục trưởng Tổng cục Kỹ thuật, được giao phụ trách Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. Tổng cục này được xây dựng trên cơ sở của Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, đồng thời tiếp nhận thêm tổ chức, bộ máy và chức năng quản lý nhà nước về tạm giữ, tạm giam - trước thuộc Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an. Ngoài ra, Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp sẽ quản lý cả mảng thi hành án không phải phạt tù - lâu nay bị bỏ ngỏ và hoạt động của cảnh sát bảo vệ, hỗ trợ tư pháp.

Bộ Công an cũng đang khẩn trương xây dựng các quy chế phối hợp, hạn chế những chồng chéo hoặc vùng trống về quản lý an ninh, trật tự. Ngoài ra, theo Trung tướng Phạm Quý Ngọ, tới đây có thể phải đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho sửa tiếp Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự để giao chức năng điều tra cho Cục Đấu tranh chống tội phạm công nghệ cao.

(Luật Minh Khuê biên tập)

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc công an bắt người không rõ lý do?

5. Cơ quan công an làm sai có phải chịu trách nhiệm không ?

Chào luật sư, tôi bị nghi ngờ về hành vi hủy hoại tài sản của người khác, cơ quan công an đã tiến hành khởi tố đối với tôi. Việc kiểm sát tiến hành truy tố đối với tôi. Sau khi đưa vụ án ra xét xử ở Tòa án do không đủ căn cứ chứng minh lên tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do hành vi không cấu thành tội phạm. Xin hỏi cơ quan công an và viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm gì với tôi. Xin cảm ơn luật sư.

Luật sư trả lời:

Theo như thông tin bạn đưa ra thì bạn sẽ được bồi thường nếu đảm bảo các nội dung sau:

Thứ nhất, căn cứ để bạn yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017:

Điều 7. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường khi có đủ các căn cứ sau đây:

a) Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này;

c) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.

2. Căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng bao gồm:

a) Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường;................

Nếu bạn có đủ các căn cứ trên thì bạn sẽ có quyền yêu cầu cơ quan tiền hành tố tụng làm sai phải bồi thường tổn thất cho bạn. Các văn bản dùng để làm căn cứ để yêu cầu bồi thường thiệt hại: ( Điều 9 Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước)

1. Bản án của Tòa án có thẩm quyền xác định rõ người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường;

2. Quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra xác định rõ người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường;

3. Văn bản khác theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 3 của Luật này.

Thứ hai, các thiệt hại được bồi thường:

Bạn chưa nói rõ bạn có bị tạm giam hay tạm giữ hay không nên bạn có thể tham khảo quy định dưới đây để xác định trường hợp của mình:

Điều 24. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

1. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại là cá nhân được xác định như sau:

a) Thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;

b) Thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thu nhập không ổn định theo mùa vụ được xác định là thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại.

Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày.

Ngoài thiệt hại về mặt vật chất thì bạn còn bị thiệt hại về tinh thần nên có thể áp dụng quy định sau:

Điều 27. Thiệt hại về tinh thần

3. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong hoạt động tố tụng hình sự được xác định như sau:

a) Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được xác định là 02 ngày lương cơ sở;

b) Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là 05 ngày lương cơ sở cho 01 ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù;

c) Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại không bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc chấp hành hình phạt không phải là hình phạt tù được xác định là 02 ngày lương cơ sở cho 01 ngày không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản này;

d) Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo được xác định là 03 ngày lương cơ sở cho 01 ngày chấp hành hình phạt;

đ) Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại đã chấp hành xong hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án mà sau đó mới có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự được xác định là 02 ngày lương cơ sở cho 01 ngày chưa có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.

Thứ ba, cơ quan tiến hành giải quyết:

Điều 34. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là cơ quan giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:

1. Đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; đã ra lệnh bắt, quyết định tạm giữ nhưng cơ quan, người có thẩm quyền quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

2. Đã ra quyết định khởi tố bị can nhưng Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định khởi tố vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra bổ sung hoặc kết luận điều tra mới đề nghị truy tố nhưng Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

Điều 35. Viện kiểm sát giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

Viện kiểm sát là cơ quan giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:

1. Đã phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhưng người bị bắt, bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;

2. Đã phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 34 của Luật này; đã quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng căn cứ kết quả điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can vì khôngcó sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ ánmà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

3. Đã ra quyết định truy tố bị can nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Nộp lại con dấu cũ do Cơ quan công an cấp ở đâu?