1. Quy định về sinh con thứ ba

Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số năm 2003, quy định về nghĩa vụ của các cặp vợ chồng trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình, cụ thể như sau:

- Vợ chồng có quyền tự quyết định về thời gian và khoảng cách sinh con.

- Các cặp vợ chồng chỉ được sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.

- Bảo vệ sức khỏe và thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ.

Trường hợp đặc biệt nêu tại khoản 2, Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số năm 2003 được quy định và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 20/2010/NĐ-CP và đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 18/2011/NĐ-CP, quy định một số trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con, cụ thể như sau:

- Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

- Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.

- Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.

- Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.

- Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.

- Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ) có quyền sinh một hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng (con đẻ).

- Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ) có quyền sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai người đã có con riêng (con đẻ). Quy định này không áp dụng cho trường hợp hai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.

Đối với việc vi phạm quy định về sinh con thứ ba, Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số 2003 ban hành năm 2008 và các văn bản hướng dẫn chi tiết như đã nêu ở trên.

Hiện nay, theo Quyết định số 588/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/2020 về việc phê duyệt "chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng và đối tượng đến năm 2030," việc sinh con thứ ba được thảo luận trong một số nội dung cụ thể. Ở góc độ quản lý của nhà nước, quy định như sau:

- Tập trung lãnh đạo và chỉ đạo việc giảm tỷ lệ sinh con ở những địa phương có tỷ lệ sinh cao, duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế và khuyến khích sinh đủ hai con ở những nơi có tỷ lệ sinh thấp.

- Ở mỗi địa phương, cần thực hiện "vận động giảm sinh con ở nơi có tỷ lệ sinh cao, duy trì tại những nơi đã đạt mức sinh thay thế và khuyến khích sinh thêm con ở những nơi có tỷ lệ sinh đã giảm.

- Cụ thể hóa các chính sách hỗ trợ và khuyến khích phù hợp với đặc điểm tỷ lệ sinh con của từng địa phương:

+ Đối với địa phương có tỷ lệ sinh con cao, tiếp tục áp dụng và nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách hỗ trợ và khuyến khích hiện hành, chẳng hạn như khuyến khích các cặp vợ chồng, gia đình, tập thể và cộng đồng không sinh con thứ ba trở lên; hỗ trợ người dân trong việc thực hiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, bao gồm cung cấp các biện pháp tránh thai; đào tạo và hỗ trợ cho những người thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ và người tham gia vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình...

+ Đối với địa phương đã đạt mức sinh thay thế và có tỷ lệ sinh thấp, cần rà soát và bãi bỏ các chính sách khuyến khích giảm sinh con. Từng bước, ban hành và thực hiện các chính sách khuyến khích sinh đủ hai con áp dụng cho các gia đình và cộng đồng. Ở những địa phương có tỷ lệ sinh dưới mức sinh thay thế thí điểm, mở rộng thực hiện các chính sách hỗ trợ cho các cặp vợ chồng trong việc sinh con, nuôi dạy con; đồng thời có chính sách không khuyến khích kết hôn muộn, sinh con muộn và sinh ít con.

- Các nhiệm vụ và hoạt động ưu tiên cần thực hiện ngay:

+ Loại bỏ các quy định của các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cộng đồng liên quan đến mục tiêu giảm sinh con và tiêu chí giảm sinh con thứ ba trở lên.

+ Sửa đổi và bổ sung các chính sách hỗ trợ và khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con dựa trên phân tích và đánh giá tác động của các chính sách về lao động, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế, đối với việc giảm sinh con; xây dựng và triển khai các mô hình can thiệp thích hợp.

Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật của nước ta đề ra những quy định cụ thể về việc sinh con thứ ba. Đối với những địa phương có tỷ lệ sinh cao, việc giảm tỷ lệ sinh con thứ ba được khuyến khích thông qua việc thực hiện các chính sách hỗ trợ và khuyến khích hiện hành. Đối với những địa phương đã đạt tỷ lệ sinh thay thế và có tỷ lệ sinh thấp, việc tăng cường các chính sách khuyến khích sinh đủ hai con được ưu tiên. Các quy định này cũng áp dụng cho đảng viên, và việc sinh con thứ ba sẽ bị kỷ luật theo quy định của pháp luật hiện hành.

 

2. Tờ trình về việc sinh con thứ ba là gì?

Tờ trình về việc sinh con thứ ba là một loại tài liệu được cá nhân sử dụng để trình bày lý do việc sinh con thứ ba cho cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền. Thông thường, biểu mẫu này được áp dụng trong các tổ chức và cơ quan hành chính.

Tờ trình này dùng để thông báo về việc sinh con thứ ba, để đảm bảo quyền lợi thai sản hoặc để thực hiện các quy định kỷ luật của cơ quan hoặc đơn vị làm việc.

 

3. Mẫu tờ trình về việc sinh con thứ ba cập nhật mới nhất

>> Tải ngay: Mẫu tờ trình về việc sinh con thứ ba cập nhật mới nhất 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 20...

TỜ TRÌNH VỀ VIỆC SINH CON THỨ 3
(Về việc sinh con thứ 3)

Kính gửi: - Cơ quan/tổ chức
- Người có chức vụ/thẩm quyền giải quyết

Căn cứ Quy định 69-QĐ/TW năm 2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm;

Căn cứ Hướng dẫn 05-HD/UBKTTW năm 2022 thực hiện một số điều trong Quy định 69-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Tên tôi là: Nguyễn Thị A

Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1980

Nơi sinh (tỉnh, TP) Hà Nội

Giấy CMND/thẻ CCCD số 123456789

Ngày cấp 20/08/2005

Nơi cấp (tỉnh, TP) Hà Nội

Địa chỉ thường trú: Số 123, Phố ABC, Quận XYZ, Hà Nội

Chỗ ở hiện nay Số 456, Phố DEF, Quận GHI, Hà Nội

Điện thoại liên hệ: 0123 456 789

Tôi hiện đang là Đảng viên và đang công tác tại Công ty ABCD

Tôi xin giải trình với Quý cơ quan/công ty về sự việc như sau:

Tôi kết hôn ngày 20/10/2005. Sau khi sinh đứa con, tôi được chuẩn đoán mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối và được bác sĩ khuyến cáo không được sử dụng các biện pháp tránh thai nếu không sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng. Tuy nhiên do lỡ kế hoạch và cũng là ngoài mong muốn, ngày .../.../20... tôi phát hiện mình mang thai thứ 3. Hiện tại tôi đang là Đảng viên và đang công tác tại Công ty ABCD. Tôi hoàn toàn biết về việc mình chỉ được phép sinh hai con và nếu sinh con thứ 3 thì sẽ phải chịu hình thức kỷ luật khiển trách theo quy định tại khoản 1 Điều 52. Vi phạm quy định chính sách dân số Quy định Xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm:

Điều 52. Vi phạm quy định chính sách dân số

1. Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Cản trở, cưỡng bức thực hiện kế hoạch hoá gia đình; tham gia các hoạt động xét nghiệm, chẩn đoán để xác định giới tính thai nhi trái quy định.

b) Vi phạm chính sách dân số.

...

3. Trường hợp vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ.

Xét theo quy định tại Khoản 8 Mục III Hướng dẫn 05-HD/UBKTTW Hướng dẫn thực hiện một số điều quy định trong Quy định số 69-QĐ/TW Quy định Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm:

8. Vi phạm quy định chính sách dân số (Điều 52)

8.1. Vi phạm do nếu thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe thai sản (có xác nhận của bệnh viện cấp huyện và tương đương trở lên) thì được xem xét giảm nhẹ mức kỷ luật.

8.2. Vi phạm do cố ý hoặc cưỡng ép không thực hiện kế hoạch hóa gia đình thì xem xét tăng nặng mức kỷ luật.

Tôi nhận thấy việc mình sinh đứa con thứ 3 là ngoài ý muốn và trường hợp của tôi thuộc một trong các trường hợp không vi phạm chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình. Tôi có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự việc trên và được đính kèm theo bản giải trình này.

Trên đây là toàn bộ phần giải trình của tôi về việc sinh con thứ 3, tôi cam đoan những thông tin, sự việc trình bày với quý cơ quan là hoàn toàn đúng sự thật và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật./.

Tài liệu kèm theo:

1. Xác nhận của bệnh viện cấp huyện

2…

Người giải trình

(Ký và ghi rõ họ tên)

Bài viết liên quan: Viên chức sinh con thứ 3 thì có bị ảnh hưởng gì không?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn về pháp luật của quý khách hàng thông qua số tổng đài tư vấn pháp luật hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!