1. Vợ chồng ly hôn nhưng quay lại với nhau khi sinh con thứ ba có vi phạm chính sách dân số không?

Theo Quy định 05-QĐi/TW năm 2018, việc sinh con thứ ba không được xem là vi phạm chính sách dân số trong một số trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng trong các tình huống được quy định cụ thể và được công nhận bởi cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể, những trường hợp sau đây được miễn khỏi quy định về chính sách dân số:

- Trường hợp cặp vợ chồng sinh con thứ ba và ít nhất một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc đang đối mặt với nguy cơ suy giảm dân số.

- Khi cặp vợ chồng sinh con lần đầu tiên và số lượng con trở lên đạt ba người trở lên.

- Khi cặp vợ chồng đã có một đứa con và sinh thêm hai đứa con nữa.

- Khi cặp vợ chồng sinh con lần thứ ba trở lên và chỉ có một đứa con sống tại thời điểm sinh, bao gồm cả trường hợp con sống đó được nhận nuôi.

- Khi cặp vợ chồng đã có hai đứa con nhưng một hoặc cả hai đứa con bị khuyết tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không di truyền và đã được xác nhận bởi hội đồng y khoa cấp tỉnh hoặc trung ương.

- Khi một trong hai người đã có con riêng (con trái pháp luật) và cặp vợ chồng sinh thêm một hoặc hai đứa con.

- Khi cả hai người đều có con riêng (con trái pháp luật) và sinh một hoặc hai đứa con trong một lần sinh, tuy nhiên, quy định này không áp dụng nếu cặp vợ chồng đã có hai đứa con chung trở lên và các đứa con đó vẫn còn sống.

- Khi phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai đứa con trong một lần sinh.

- Khi sinh con thứ ba trở lên trước ngày 19/01/1989 và đáp ứng các quy định về chính sách dân số có hiệu lực từ ngày 18/10/1988.

Ngoài ra, việc sinh con thứ ba do mang thai ngoài ý muốn cũng có thể được xem xét nếu các biện pháp kế hoạch hóa gia đình gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người mẹ, được xác nhận bởi bệnh viện cấp huyện hoặc cấp trung ương.

Tuy nhiên, trong trường hợp của vợ chồng sau khi ly hôn và có hai đứa con, việc quay lại với nhau và sinh con thứ ba không phù hợp với bất kỳ điều kiện nào được nêu trên. Do đó, hành động này có thể được xem là vi phạm chính sách dân số và cần phải được xem xét kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định chính thức

 

2. Điều kiện kết nạp lại vào Đảng đối với đảng viên đã bị đưa ra khỏi Đảng thế nào?

Để kết nạp lại vào Đảng đối với đảng viên đã bị đưa ra khỏi Đảng do vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, các điều kiện và quy định cụ thể đã được quy định rõ trong Điều 4 của Quy định 05-QĐi/TW năm 2018. Theo đó:

- Đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng vì vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình chỉ được xem xét, kết nạp lại vào Đảng khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của Điều lệ Đảng, hướng dẫn của Trung ương và yêu cầu thực tế của công tác xây dựng Đảng tại địa phương, đơn vị. Họ cần phải có uy tín trong cộng đồng, được các cơ quan, đơn vị công nhận, và được các tổ chức đoàn thể mà họ tham gia đánh giá cao về hiệu quả công việc, ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng. Đồng thời, họ cần có thời gian phấn đấu ít nhất 24 tháng đối với trường hợp vi phạm chính sách sinh con thứ ba hoặc 36 tháng đối với trường hợp vi phạm sinh con thứ tư, tính từ ngày bị đưa ra khỏi Đảng đến ngày chi bộ họp xét đề nghị kết nạp vào Đảng.

- Quyết định về việc kết nạp lại đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng do vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình vào Đảng phải được sự đồng ý bằng văn bản của ban thường vụ cấp uỷ trực thuộc Trung ương trước khi ban thường vụ cấp uỷ huyện (hoặc tương đương) quyết định kết nạp. Điều này nhằm đảm bảo quy trình và độ chính xác trong quyết định của Đảng, đồng thời tạo điều kiện cho việc đánh giá kỹ lưỡng về sự phấn đấu và đổi mới của đảng viên này trước khi được kết nạp trở lại

 

3. Tiêu chuẩn, điều kiện, thẩm quyền kết nạp vào Đảng khi vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình?

Tiêu chuẩn, điều kiện, và thẩm quyền kết nạp vào Đảng đối với quần chúng vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình là một vấn đề nghiêm túc được quan tâm và điều chỉnh theo quy định chặt chẽ của Điều 5 Quy định 05-QĐi/TW năm 2018. Điều này là cơ sở pháp lý quan trọng đối với việc quản lý và xử lý các trường hợp vi phạm liên quan đến chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình tại cấp cơ sở.

Theo Điều 5 nói trên, quần chúng vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình chỉ có thể được xem xét và kết nạp vào Đảng khi chúng đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của Trung ương, cùng với yêu cầu thực tế của công tác xây dựng Đảng tại địa phương và đơn vị. Đặc biệt, người đó cần phải có uy tín trong cơ quan, đơn vị hoặc cộng đồng dân cư, được đánh giá cao về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ, và ý thức trách nhiệm đối với nhân dân. Điều này phản ánh cam kết của Đảng trong việc chấp hành và thúc đẩy các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời đòi hỏi sự đồng thuận và ủng hộ từ các thành viên và cộng đồng.

Ngoài ra, việc thời gian phấn đấu cũng là một yếu tố quan trọng. Theo quy định, đối với trường hợp vi phạm sinh con thứ ba, cá nhân phải có thời gian phấn đấu ít nhất 24 tháng, và đối với trường hợp vi phạm sinh con thứ tư, thời gian này là 36 tháng, được tính từ ngày sinh con cho đến ngày chi bộ họp xét đề nghị kết nạp vào Đảng. Điều này thể hiện sự cân nhắc kỹ lưỡng và tính linh hoạt của quy định, tạo điều kiện cho cá nhân cải thiện và bổ sung đủ điều kiện để được xem xét kết nạp vào Đảng.

Trách nhiệm và thẩm quyền trong việc kết nạp quần chúng vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình vào Đảng được quy định rõ ràng. Theo quy định, việc này thuộc thẩm quyền của ban thường vụ cấp uỷ huyện hoặc cấp tương đương, có nhiệm vụ xem xét và quyết định. Điều này là để đảm bảo quy trình quyết định được thực hiện một cách công bằng và minh bạch, đồng thời đảm bảo tính đồng nhất trong việc áp dụng quy định này trên toàn bộ lãnh thổ.

Nhìn chung, việc áp dụng và tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, và thẩm quyền kết nạp vào Đảng đối với quần chúng vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình là một phần quan trọng của công tác quản lý và xây dựng Đảng, đồng thời là một phần của nỗ lực chung của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững và cân đối của dân số và gia đình, đồng thời bảo đảm quyền lợi và lợi ích chung của cộng đồng

Bài viết liên quan: Hỏi về thủ tục ly hôn của đảng viên? Đảng viên sinh con thứ ba có bị kỷ luật Đảng không?

Trường hợp nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách!