Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy giúp tôi phân tích rõ hơn về mô hình mang tính miêu tả của H. Room, tại sao lại có mô hình này?

Cảm ơn!

Trả lời:

Khi chúng ta nói về Victor H. Room, ông là một nhà tâm lý học và là nhà nghiên cứu khoa học hành vi nổi tiếng. Ông tốt nghiệp cử nhân và thạc sĩ ở trường Đại học Maikim (Canada), đỗ liến sĩ ở trường Đại học Michigan (Mỹ), ông đã từng giảng dạy ở trường Đại học Pennsylvania, trường Đại học Khanakin - Meilung và trong một thời gian dài là giáo sư tâm lý học và khoa học quản lý.

Công việc nghiên cứu của ông Victor H. Room về hai phương diện này được hoàn thành vào năm 1964, 1973 giữ vị trí tương đối quan trọng trong lịch sử phát triển của lý luận quản lý và là thành quả quan trọng của khoa học hành vi giai đoạn sau, ứng dụng trong lĩnh vực quản lý. Đặc biệt là ông Victor H. Room đã làm nhiều việc mang tính khai phá cho thuyết hy vọng, có tinh hưởng tương đối lớn.

Ông Victor H. Room đã viết khá nhiều tác phẩm, trong đó có nhiều cuốn sách và nhiều luận văn. Những tác phẩm quan trọng nhất của ông kể đến: “Công việc và sự khích lệ” (1964), “Lãnh đạo và quyết sách” (cùng viết với G. năm 1973). Quyến thứ nhất là tác phẩm tiêu biểu về thuyết hy vọng. Quyển thứ hai nói về mô hình quy phạm và những nguyên lý cơ bản về lý luận lãnh đạo do H. Room và G. đề ra cùng với những quy tắc và việc ứng dụng nó trong thực tế. Trước khi phát hành quyển sách thứ hai, H. Room đã từng phát biểu một bài viết trên tạp chí “Động lực của tổ chức” vào mùa xuân năm 1973 với nhan đề “Mô hình quy phạm H. Room - G.”.

Bài viết đó chính là nội dung cơ bản của cuốn “Lãnh đạo và quyết sách”. Trong bài viết ấy, ông đã đưa ra một luận điểm mới về việc ra quyết định quản lý. Sau đó vào năm 1974, H. Room và Apisec đã cùng phát biểu một bài luận văn với nhan đề “Ra quyết định quản lý, một quá trình mang tính xã hội: Mô hình quy phạm và mô hình miêu tả hành vi lãnh đạo (xem cuốn “Khoa học quyết sách”, tập 5 nãm 1974). Năm 1976, H. Room lại phát biểu bài luận văn với nhan đề “Người lãnh đạo có thế học cách lãnh đạo không?” (tạp chí “Động lực của tổ chức” năm 1976, số mùa đông) đê nói rõ thêm lý luận của mình về công việc lãnh đạo.

Dưới đây chúng ta sẽ cùng xem xtes và nghiên cứu cụ thể về mô hình miêu tả theo H. Room.

1. Đặt vấn đề (Lý do có mô hình miêu tả)

Trong công tác thực tế, người ta thường thấy có 3 vấn đề được đặt ra.

- Một là, nhà quản lý đã hành động như thế nào?

- Hai là, những suy nghĩ gì ảnh hưởng đến việc người lãnh đạo chia sẻ quyền quyết định vấn đề với cấp dưới và ảnh hưởng đến mức độ nào?

- Ba là, những hành vi của nhà quản lý phù hợp với mô thức được lựa chọn về nhũng mặt nào và không phù hợp về những mặt nào?

2. Mô hình miêu tả theo H. Room

Để giải đáp được 3 vấn đề ở mục 1 trên này, sau khi đã điều tra nghiên cứu và phân tích nhiều sự kiện, H. Room đã đưa ra mô hình miêu tả hành vi lãnh đạo. Đặc điểm cơ bản của mô hình đó là yêu cầu người lãnh đạo trả lời một loạt vấn đề mang tính chuẩn mực, đồng thời so sánh phương thức xử lý vấn đề của người lãnh đạo với mô hình được quy phạm và từ đó đánh giá đặc trưng hành vi, phong cách lãnh đạo của người ấy.

Lãnh đạo được hiểu là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo là quá trình sử dụng và phối hợp hoạt động của các cá nhân trong tổ chức bằng cách gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học về tổ chức - nhân sự.

Trong quá trình điều tra, nghiên cứu qua nhiều sự kiện để đưa ra mô hình nói trên, ông H. Room đã ứng dụng 2 phương pháp nghiên cứu được gọi là phương pháp “nhớ lại vấn đề” và phương pháp “chuẩn hóa vấn đề”.

- Phương pháp thứ nhất “nhớ lại vấn đề” đòi hỏi đối tượng điều tra phải thông qua việc “nhớ lại” và dùng hình thức văn bản để miêu tả tình hình mà ông ta (bà ta) đã trải qua trong thời gian gần nhất và những vấn đề đã giải quyết được, nêu ra những phương thức quyết sách nào mà đã được ông ta (bà ta) sử dụng, đồng thời căn cứ vào yêu cầu của mô hình đó để lần lượt giải đáp những vấn đề thuộc 7 tầng nấc của ông H. Room đã đưa ra.

- Phương pháp thứ hai "chuẩn hóa vấn đề" là phương pháp ứng dụng một loạt thí dụ đã được chuẩn hóa do H. Room thiết kế sau khi thí nghiệm, đòi hỏi đối tượng điều tra giả định rằng mình là một nhà quản lý trong thí dụ đó đế quyết định mình phải sử dụng phương thức nào để giải quyết vân đề và ra quyết sách quản lý, từ đó tìm ra những nhân tô ảnh hưởng đến việc nhà quản lý chia sẻ quyền ra quyết sách với cấp dưới.

3. Trường hợp nhà quản lý ra quyết định mà không cần ý kiến cấp dưới theo H. Room

Việc thông qua phương pháp “nhớ lại” vấn đề và phương pháp “chuẩn hóa” vấn đề để nghiên cứu phương thức hành vi của nhà quản lý chứng tỏ một cách rõ ràng là, mỗi nhà quản lý khi đưa ra quyết sách quản lý đều chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố.

Do đó, một trong những điều quan trọng để nhà quản lý có thể lựa chọn phương thức quyết sách đúng đắn là biết đánh giá đúng hoàn cảnh. H. Room cho rằng, trong mấy trường hợp sau đây, nhà quản lý có thể ra quyết định mà không cần cấp dưới tham gia ý kiến, đó là những quyết định sau:

a. Người ra quyết định quản lý nắm được tất cả những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định.

Thứ nhất, vấn đề mà người ra quyết định quản lý cần giải quyết là vấn đề mang tính cơ cấu cao.

Thứ hai, việc cấp dưới chấp nhận hay không chấp nhận quyết sách không ảnh hưởng đến việc thực hiện quyết sách một cách hữu hiệu hoặc quyết sách mà người lãnh đạo tự mình đề ra có nhiều khả năng được cấp dưới chấp nhận.

Thứ ba, mục tiêu cá nhân của cấp dưới không nhất trí với mục tiêu của tổ chức. H. Room cho rằng, một khác biệt quan trọng giữa hành vi theo mô hình được quy phạm và hành vi thực tế của nhà quản lý là ở chỗ, hành vi theo mô hình được quy phạm thay đổi một cách rõ rệt cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh, còn phản ứng của nhà quản lý lại chịu ảnh hưởng của nhân tố chủ quan. Khi hoàn cảnh thay đổi, hành vi của nhà quản lý có thể không thay đổi hoặc thay đổi không nhiều.

Tuy nhiên, nếu nhà qủan lý có thể tự giác lấy mô hình quy phạm làm cơ sở để lựa chọn phương thức ra quyết định thì ông ta có thể vừa làm việc theo kiểu chuyên chế, vừa tạo điều kiện cho cấp dưới tham gia ý kiến.

Bởi vì, trong tình hình việc ra quyết định không ảnh hướng đến cấp dưới, ông ta có thể sử dụng phương thức chuyên chê nhiều hơn, còn trong tình hình sự hợp tác và ủng hộ của cấp dưới đối với việc thực hiện quyết sách rất quan trọng hoặc đòi hỏi sử dụng sở trường và sự giúp đỡ về thông tin của cấp dưới để ra quyết định thì ông ta phải thường xuyên sử dụng phương thức ra quyết định với sự tham gia ý kiến của cấp dưới.

Trong quá trình nghiên cứu các phương thức ra quyết định, H. Room nhận thấy rằng, phương pháp tập hợp tư liệu của họ, sau khi sửa đối và bổ sung có thê dùng vào việc đào tạo những người lãnh đạo. Đó là một sản phẩm phụ rất quan trọng của ông, tức là phương pháp đào tạo những người lãnh đạo trên cơ sở mô hình quy phạm và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm mang tính miêu tả.

4. Nguyên tắc thực hiện phương pháp đào tạo

Như vừa phân tích ở mục 3, quá trình nghiên cứu các phương thức ra quyết định, H. Room nhận thấy rằng, phương pháp tập hợp tư liệu của họ, sau khi sửa đối và bổ sung có thê dùng vào việc đào tạo những người lãnh đạo. Đó là một sản phẩm phụ rất quan trọng của ông, tức là phương pháp đào tạo những người lãnh đạo trên cơ sở mô hình quy phạm và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm mang tính miêu tả.

Phương pháp đào tạo này phải tuân theo 2 nguyên tắc cơ bản, cụ thể như sau:

Một là, đối với người lãnh đạo, điều rất quan trọng là có năng lực làm cho hành vi lãnh đạo của mình phù hợp với yêu cầu của hoàn cảnh.

Hui là, biết căn cứ vào tính chất của mỗi công việc cụ thể để lựa chọn phương thức ra quyết định.

Hai nguyên tắc đó có liên quan mật thiết với nhau. Nguyên tắc thứ hai có thể coi là một mặt hoặc một biểu hiện của nguyên tắc thứ nhất.

H. Room cho rằng, nếu mỗi nhà quản lý so sánh những quyết sách mà họ đã đưa ra trong quá khứ và sẽ đưa ra trong tương lai với những hành vi theo mô hình quy phạm và thấy rõ được trong quá trình ra quyết định của mình, họ đã vi phạm những quy tắc nào thì năng lực công tác của họ sẽ có thể được nâng cao với mức độ khác nhau. Bởi vì thông qua sự so sánh như vậy, mô hình quy phạm có thể cung cấp cho nhà quản lý một công cụ phân tích, giúp họ biết được hoàn cảnh mà họ đang gặp phải và chọn lựa phương thức ra quyết định thích hợp.

5. Kết thúc vấn đề

Như vậy, mặc dù mô hình quyết sách đã nói ở trên không hoàn thiện nhưng nó đã có tiếng vang tương đối trong giới nghiên cứu khoa học về sự lãnh đạo ở nước ngoài, đồng thời có giá trị thực dụng nhất định, bởi vì lý luận này đặc biệt có ích đối với việc bồi dưỡng nhân tài quản lý và trên thực tế, nó cũng có ích đối với những người lãnh đạo và những nhà quản lý có kinh nghiệm.

Giám đốc một công ty Mỹ đã nói: “H. Room đã đơn giản hóa các phương thức quyết sách với những mô hình khác nhau thành 3 kiểu: kiểu chuyên chế, kiểu hiệp thương và kiểu quyết sách quần thể, thật là đễ hiểu!”. William Tanay, một nhà lý luận quản lý nổi tiếng của Mỹ cũng rất khen ngợi cuốn sách này. Đương nhiên, cũng như các lý luận khác về công việc lãnh đạo, mô hình này vẫn cần được thảo luận thêm và sửa chữa.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn)