NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Khái niệm tập đoàn kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam

Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo quy định của Luật này.

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty có công ty mẹ, công ty con và các công ty thành viên khác. Công ty mẹ, công ty con và mỗi công ty thành viên trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty có quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp độc lập theo quy định của pháp luật.

2. Địa vị pháp lý của tập đoàn kinh tế theo phap luật Việt Nam:

Điều 38 Nghị định số 102/2010 NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp quy định:

Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định.

Công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 15 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp. Công ty con được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc của pháp luật liên quan.

Công ty mẹ, công ty con và các công ty khác hợp thành tập đoàn kinh tế có các quyền, nghĩa vụ, cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động phù hợp với hình thức tổ chức doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật liên quan và Điều lệ công ty.

Cụm từ “tập đoàn” có thể sử dụng như một thành tố phụ trợ cấu thành tên riêng của công ty mẹ, phù hợp với các quy định từ Điều 31 đến Điều 34 của Luật Doanh nghiệp về đặt tên doanh nghiệp.

Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ báo cáo tài chính hợp nhất, giám sát hoạt động tài chính của tập đoàn kinh tế, của nhóm công ty mẹ - công ty con thuộc tập đoàn kinh tế”.

Như vậy, theo quy định trên chúng ta thấy rằng đặc điểm nổi bật của tập đoàn kinh tế là không có tư cách pháp nhân và không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp.

Đối với các tập đoàn kinh tế nhà nước thì ngày 05 tháng 11 năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 101/2009/NĐ-CP về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước quy định khá toàn diện các nguyên tắc, các quy định mang tính đặc thù từ mục tiêu thành lập, quy trình thành lập, quản lý điều hành đến quản lý giám sát đối với các tập đoàn kinh tế nhà nước tạo tiền đề cho việc khắc phục nhiều tồn tại, bất cập trong thời kỳ đầu thí điểm. Điều 4 Nghị định này quy định:

“1. Tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm thành lập theo Nghị định này là nhóm công ty có quy mô lớn liên kết dưới hình thức công ty mẹ - công ty con và các hình thức khác, tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.

2. Tập đoàn kinh tế nhà nước bao gồm:

a) Công ty mẹ (gọi tắt là doanh nghiệp cấp I) là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ quyền chi phối theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

b) Công ty con của doanh nghiệp cấp I (gọi tắt là doanh nghiệp cấp II) là các doanh nghiệp do doanh nghiệp cấp I giữ quyền chi phối; được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành viên trở lên, tổng công ty theo hình thức công ty mẹ - công ty con, công ty liên doanh (trong trường hợp chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp), công ty con ở nước ngoài.

c) Công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo;

d) Các doanh nghiệp liên kết của tập đoàn gồm: doanh nghiệp có vốn góp dưới mức chi phối của công ty mẹ và của công ty con; doanh nghiệp không có vốn góp của công ty mẹ và của công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết hoặc không có hợp đồng liên kết, nhưng có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn.

3. Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên tập đoàn có tư cách pháp nhân; có vốn và tài sản riêng; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận chung của tập đoàn. Nhà nước là chủ sở hữu vốn nhà nước trực tiếp đầu tư tại công ty mẹ. Công ty mẹ là chủ sở hữu vốn nhà nước tại các công ty con, doanh nghiệp liên kết”.

Ngoài ra, các tập đoàn kinh tế nhà nước này có tên gọi, biểu tượng và thương hiệu riêng. Thủ tướng Chính phủ quyết định tên gọi của tập đoàn kinh tế nhà nước, tên của công ty mẹ thí điểm thành lập theo Nghị định này (khoản 1 Điều 5 Nghị định 101/2009).

Nghị định 101/2009/NĐ-CP đã quy định rõ hơn về xác định địa vị pháp lý và tên gọi của tập đoàn kinh tế; về tổ chức thực hiện quy định về kiểm soát viên đối với các tập đoàn kinh tế nhà nước; về việc thực hiện quản lý nhà nước và thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế; về việc thực hiện kinh doanh đa ngành để bảo đảm các tập đoàn kinh tế nhà nước tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh chính đã được Nhà nước giao; về việc tham gia của các thành phần kinh tế vào các tập đoàn kinh tế nhà nước; việc các tập đoàn kinh tế đầu tư thành lập và kiểm soát một số ngân hàng, sau đó sử dụng ngân hàng để tài trợ cho các kế hoạch mở rộng của mình; về việc đầu tư ngược trong tập đoàn kinh tế

3. Thực trạng phát triển mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam:

3.1 Phương thức hình thành tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Về phương thức thành lập thì các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các Tổng công ty Nhà nước theo quyết định của Chính phủ. Khác với sự hình thành của các tập đoàn kinh tế tư bản nước ngoài (được hình thành trên cơ sở sáp nhập, mua bán, đầu tư vốn giữa các DN), sự hình thành của hầu hết các tập đoàn kinh tế Việt Nam theo mô hình công ty mẹ - con là kết quả và là giải pháp để thực hiện chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước mà cụ thể hơn là các Tổng công ty Nhà nước của Chính phủ. Tính đến năm 2011 đã có 13 tập đoàn kinh tế được hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con được thành lập từ kết quả của sự chuyển đổi, sắp xếp lại các Tổng công ty Nhà nước. Các tập đoàn đó là: Bưu chính viễn thông (VNPT), Than – khoáng sản (Viacomin), Dầu khí (PetroVietnam), Điện lực (EVN), Dệt may (Vinatex), Cao su (VRG), Tài chính – Bảo hiểm (Bảo Việt), Viễn thông quân đội (Viettel), Hóa chất (Vinachem), Công nghiệp xây dựng (Songda), Xăng dầu (Petrolimex) và tập đoàn phát triển nhà và đô thị Việt Nam (HUD Holdings).

Đối với khu vực tư nhân, hiện nay có một số nhóm doanh nghiệp tư nhân theo mô hình tập đoàn như: Công ty cổ phần FPT, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Bitexco, Nam Cường… được hình thành trê cơ sở đầu tư vốn giữa các doanh nghiệp Theo số liệu từ Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, tính đến nay đã có 673 doanh nghiệp sử dụng cụm từ “tập đoàn” và 241 doanh nghiệp sử dụng cụm từ “tổng công ty” trong đặt tên doanh nghiệp.() Các tập đoàn kinh tế tư nhân này đều có vốn góp cổ phần chi phối lẫn nhau ở các công ty con, các công ty liên kết, ngân hàng, đối tác chiến lược. Các tập đoàn kinh tế tư nhân có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.

Các tập đoàn kinh doanh trong các ngành kinh tế mũi nhọn với quy mô và tầm mức lớn, hoạt động theo mô hình công ty mẹ, con dựa trên luật doanh nghiệp thống nhất. Một đặc trưng khác trong mô hình tại Việt Nam là các tập đoàn kinh tế đứng đầu các lĩnh vực ngành nghề; đóng vai trò là công cụ điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ với phương thức lãnh đạo của Đảng được nhấn mạnh.

3.2 Xu hướng phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển theo chiều sâu, thúc đẩy ền kinh tế đất nước phát triển, chuyển đổi sang mô hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải tìm một mô hình kinh tế thích ứng với sự biến đổi nói trên. Bên cạnh sự ra đời, phát triển của hàng loạt doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, khả năng hội nhập, định hướng, điều tiết thị trường. Sự hình thành các tập đoàn kinh tế ở nước ta hiện nay là rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Có thể nói, việc liên kết, hình thành tập đoàn kinh tế về thực chất là để tăng cường sức mạnh cạnh tranh. Việc thành lập tập đoàn kinh tế là một xu thế tất yếu, và khu vực tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ về quy mô và số lượng bằng cách tách thành các doanh nghiêp con, đầu tư vào các lĩnh vực mới, hình thành lên cac công ty mẹ - công ty con mang dáng dấp của tập đoàn kinh tế. Trên thực tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn có xu hướng xích lại gần nhau để tăng sức cạnh tranh của thị trường. Ví dụ: Ba doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối là Phú Thái, Saigon Coop và Satro Hapro Mart đã liên kết với nhau để tiến hành hoạt động kinh doanh.

3.3 Một số giải pháp phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Kể từ khi Chính phủ quyết định thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước tới nay các tập đoàn kinh tế thể hiện rõ vị trí và vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước. Các tập đoàn cũng phát huy được vị trí tiên phong, dẫn dắt và tạo môi trường thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế khác cùng tham gia đầu tư, sản xuất và kinh doanh.

Mặc dù vậy, quá trình thí điểm cũng cho thấy những mặt hạn chế còn tồn tạị. Hạn chế lớn nhất là vấn đề về khung pháp lý. Chúng ta chưa có khung pháp lý đầy đủ, rõ ràng về mô hình tâp đoàn kinh tế nhà nước. Điều đó dẫn đến các điểm chưa hoàn thiện trong cơ chế thực hiện và giám sát quyền sở hữu. Phương thức quản lý và điều hành cũ vẫn còn tồn tại. Vai trò lãnh đạo của Đảng ủy, vai trò quản trị của Hội đồng quản trị và vai trò điều hành của Ban Tổng giám đốc chưa được tách bạch và chuẩn hóa về quy trình nghiệp vụ. Bên cạnh những hạn chế mang tính khách quan thì bản thân các tập đoàn cũng có những vấn đề nội tại. Một phần cán bộ quản lý, người đại diện của tập đoàn tại các đơn vị chưa quán triệt đầy đủ tinh thần về mô hình quản lý, cách thức quản lý doanh nghiệp, thiếu kỹ năng quản trị doanh nghiệp hiện đại.

Bên cạnh đó, hiện nay chúng ta chưa có một hoạch định, định hướng cụ thể nào nhằm khuyến khích việc hình thành, hoạt động của mô hình tập đoàn tư nhân. Các chủ trương quy định việc thành lập tập đoàn kinh tế tư nhân còn mang tính chất chung chung. Hệ thống các tiêu chí xác định về tập đoàn đến nay vẫn chưa có, các nghiên cứu cụ thể để hình thành một chiến lược tổng thể để thúc đẩy sự phát triển của mô hình mới.

Trên cơ sở nhận thức đó, để đi đến những điều chỉnh chính xác đáp ứng được yêu cầu thực tế, Đảng và Nhà nước cần có các tổng kết nghiêm túc đánh giá hiệu quả mô hình tạp đoàn kinh tế nhằm chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong suốt thời gian vừa qua. Qua đó, xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển tổng thể của các tập đoàn, sớm hoàn thiện hành lang pháp lý, các quy định và chính sách phù hợp với đòi hỏi thực tiễn. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần tăng cường cơ chế và tổ chức quản lý các tập đoàn như tăng số lượng thành viên độc lập trong hội đồng quản trị, thiết lập cơ chế đánh giá tập thể của Chính phủ về hoạt động của hội đồng quản trị của các tập đoàn, quy định lại về tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả cho từng tập đoàn kinh tế theo mục tiêu dài hạn, nhằm phục vụ cho chính sách cơ cấu của Chính phủ.

Mặt khác, từ phía các tập đoàn kinh tế, tăng cường phát triển khoa học công nghệ cùng với đó là nguồn nhân lực chất lượng là yêu cầu cấp thiết nhằm hoàn thiện mô hình hoạt động của chính mình. Các giải pháp kiện toàn về công tác quản lý, nâng cao, hoàn thiện vai trò và phương lãnh đạo của tổ chức Đảng trong việc định hướng phát triển của doanh nghiệp. Cùng với đó cần thực hiện các giải pháp tái cấu trúc, sắp xếp mạng lưới hoạt động, đẩy mạnh huy động, tập trung và tích tụ vốn thông qua cổ phần hóa, thu hút doanh nghiệp thành viên và liên kết. Các tập đoàn cũng cần đẩy mạnh hoạt động phát triển thương hiệu, văn hóa doanh nghiệp, tích cực chia sẻ khó khăn vì cộng đồng, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng.

Thực hiện được những yêu cầu trên sẽ tạo tiền đề vững chắc cho Việt Nam hoàn thành mục tiêu tổng quát của 5 năm như Đại hội 11 đã xác định: “Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê