1. Mối quan hệ, tác động qua lại giữa pháp điển hóa và việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Quan điểm truyền thống của Việt Nam coi pháp điển hóa là một hoạt động lập pháp với kết quả cuối cùng là một văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành có mức độ tổng hợp, khái quát cao thường được gọi là các bộ luật. Với cách quan niệm truyền thống này thì sẽ không có sự tách biệt giữa hoạt động pháp điển hóa và công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, với cách tiếp cận pháp điển hóa ở góc độ kỹ thuật như đã trình bày ở phần trên, có thể nói, pháp điển hóa là cơ sở, tiền đề cho hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói riêng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung. Thông qua việc tập hợp, rà soát, so sánh, đồi chiều, căn chỉnh, loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo đã hết hiệu lực thi hành để xuất bản các bộ pháp điển về các lĩnh vực cụ thể, tạo cơ sở cho việc phát hiện, đề xuất, kiến nghị, tham mưu cho các nhà hoạch định chính sách, pháp luật trong việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Có thể nói, việc pháp điển hóa theo cách này bảo đảm sự phù hợp và trật tự pháp lý của tất cả các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực liên quan; đồng thời, chỉ ra được những điểm hạn chế, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu minh bạch cần được hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định hiện hành, tạo cơ sở cho việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật.

2. Làm sao để nâng cao hiệu quả của cả hoạt động pháp điển hóa và xây dựng pháp luật?

Phải giải quyết mối quan hệ giữa pháp điển hóa pháp luật với hoạt động xây dựng pháp luật để nâng cao chất lượng của hai hoạt động này. Như đã phân tích, giữa công tác pháp điển hóa và công tác xây dựng pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Pháp điển hóa chỉ có thể được thực hiện một cách có hiệu quả trên cơ sở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành tương đối hoàn chỉnh. Ngược lại, nếu hoạt động pháp điển hóa được thực hiện tốt sẽ là điều kiện để hoạt động xây dựng pháp luật trở nên thuận lợi và hiệu quả hơn.

Do vậy, để công tác pháp điển hóa được thực hiện một cách có hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thì việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng phải được tăng cường. Cụ thể, hoạt động lập pháp phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về trật tự pháp lý, về thứ bậc văn bản, thẩm quyền ban hành, quy trình, thủ tục ban hành. Hệ thống pháp luật phải được xem là một thể thống nhất, cái nọ gắn bó với cái kia và được sắp xếp theo một trật tự trước sau, trên dưới, không được phá vỡ tính hệ thống của pháp luật. Đồng thời, kỹ thuật lập pháp cần phải được tăng cường và bảo đảm áp dụng một cách thống nhất trong toàn bộ hoạt động soạn thảo pháp luật. Ngoài ra, cần tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

3. Sự đổi mới trong tư duy và cách làm chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật của Quốc hội và Chính phủ

Sự đối mới tư duy và cách làm chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật là một trong những kết quả của việc thực hiện Nghị quyết 48. Trong bốn năm (từ tháng 5/2005 đến tháng 6/2009), Quốc hội Việt Nam đã ban hành Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII nhiệm kỳ (2007-2011), 04 Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh hàng năm của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Chính phủ cũng ban hành các Kế hoạch hàng năm về công tác xây dựng pháp luật. Theo đó, gần một trăm văn bản luật, pháp lệnh, hàng trăm Nghị định hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh trên đã được ban hành. Nếu so với tổng số 7 Bộ luật, 133 luật, 151 Pháp lệnh được ban hành trong 20 năm đổi mới trước đó (1986-2005) thì đây là một con số rất ấn tượng về số lượng và tốc độ làm luật. Nhưng điều quan trọng hơn là sự đổi mới khá căn bản cách thức lựa chọn các văn bản cần soạn thảo để đưa vào chương trình xây dựng pháp luật 5 năm và hàng năm của Quốc hội và Chính phủ.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật BHVBQPPL) 2008 đã tạo cơ sở cho bước đổi mới có tính đột phá nhằm khắc phục tính hành chính, hình thức của hoạt động đề xuất, “ghi danh” vào chương trình làm luật, biến quá trình xây dựng chương trình, kế hoạch lập pháp, lập quy trở thành một quá trình mang tính khoa học - thực tiễn cao. Các đề xuất xây dựng pháp luật phải được luận giải, thuyết minh rõ ràng về mặt chính sách, các nhu cầu và giải pháp về pháp luật phải được xem xét trên cơ sở dự báo sơ bộ tác động kinh tế - xã hội để đảm bảo tính khả thi của đề xuất nếu được chấp nhận đưa vào chưong trình, kế hoạch. Mặt khác, Luật cũng tạo cơ chế cho việc điều chỉnh chương trình một cách hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả thực chất của hoạt động lập pháp, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 tiếp tục kế thừa và phát triển những quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

Chính vì vậy, mặc dù vẫn còn những bất cập, hạn chế trong các đề xuất xây dựng pháp luật nhưng tỉ lệ hoàn thành chương trình cả nhiệm kỳ và chương trình hàng năm tiếp tục được nâng cao.

4. Đơn giản hoá hình thức và đổi mới quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Đơn gian hóa hình thức và đổi mới quy trình soạn thỏa, ban hành văn bản quy phạm pháp luật à một kết quả quan trọng tiếp theo của việc đổi mới tư duy lập pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW. Theo Luật BHVBQPPL 2008, thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật đã được cải cách theo hướng đơn giản hoá, mỗi cơ quan thuộc hệ thống hành pháp và tư pháp ở trung ương chỉ có thẩm quyền ban hành một (thay vì trước đây là từ 2 đến 3) hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có những cải cách khá cơ bản như: việc đánh giá dự báo tác động kinh tế - xã hội của văn bản được thực hiện ở cả giai đoạn đề nghị xây dựng văn bản (luật, pháp lệnh, nghị định) và giai đoạn soạn thảo văn bản; tăng cường tính dân chủ, công khai, minh bạch của hoạt động lập pháp bằng việc thu hút sự tham gia của nhân dân vào các giai đoạn soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu ý kiến đóng góp, phản biện của của cơ quan, tổ chức, cá nhân; áp dụng kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản” để nâng cao tính hiệu quả, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật... Trên thực tế, công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được chuẩn hoá về quy trình, thủ tục; việc thành lập Ban soạn thảo, quy trình soạn thảo đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu dân chủ, huy động được trí tuệ của các chuyên gia, doanh nghiệp và nhân dân trong công tác xây dựng và ban hành văn bản, thủ tục xem xét và thông qua được cải tiến và rút gọn khá nhiều, chất lượng và tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được nâng lên rõ rệt.

Tuy nhiên, quy trình xây dựng pháp luật hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế, việc triển khai Luật BHVBQPPL 2008 đòi hỏi sự đổi mới cách nghĩ, cách làm của cả đội ngũ đông đảo - kể cả những người không chuyên - đang tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật ở các ngành, các cấp, do vậy, không thể là việc của một sớm, một chiều. Chính vì vậy, trên cơ sở sơ kết thực tiễn thực hiện các luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương và địa phương, chúng ta cần khẩn trương nghiên cứu để thực hiện một định hướng đã được nêu trong Nghị quyết số 48/NQ-TW cho giai đoạn sau 2010, đó là việc hợp nhất Luật BHVBQPPL 2008 và Luật BHVBQPPL của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2005 thành một luật duy nhất nhằm tạo ra những chuẩn mực chung trong quy trình xây dựng văn bản, bảo đảm tính hiệu quả trong công tác xây dựng pháp luật và sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật quốc gia.

5. Các văn bản quy phạm pháp luật tập chung vào 6 định hướng chính

Về nội dung, các văn bản pháp luật đã tập trung vào sáu định hướng được xác định trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thể hiện tư duy lập pháp mới nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa thể chế về kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, bảo vệ quyền con người phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian qua và quá trình thực thi pháp luật đã tác động tích cực đến sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội đất nước, phục vụ kịp thời yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Có thể đơn cử một lĩnh vực:

Trong các lĩnh vực quốc phòng an ninh, đối ngoại... Việt Nam cũng đã ban hành nhiều đạo luật thể hiện rõ độc lập chủ quyền và quyết tâm hội nhập quốc tế sâu rộng. Các Luật Biên giới quốc gia 2003, Luật An ninh quốc gia 2004... đã quy chuẩn hoá các yêu cầu về bảo vệ biên giới lãnh thổ, an ninh quốc gia. Các Luật Tương trợ tư pháp 2007, Luật Ký kết gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế 2005... đang góp phần thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)