1. Mối quan hệ giữa hiến pháp và tôn giáo

Đức tin tôn giáo tạo nên những bản sắc riêng cho các nhóm và cá nhân, cũng như toàn thể xã hội. Nhìn vào lịch sử, có thể thấy tôn giáo là nền tảng để nhiều hệ thống pháp luật phát triển. Do mối liên hệ sâu sắc đó giữa tôn giáo và xã hội, tôn giáo cũng có thể góp phần vào xây dựng hiến pháp. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hậu xung đột, đức tin tôn giáo có thể là nguồn gốc của xung đột và do vậy trở thành vấn đề quan tọng cần giải quyết trong quá trình xây dựng hiến pháp. Các nhà lập hiến có nhiều cách khác nhau để đưa vấn đề tôn giáo vào trong hiến pháp. Hiến pháp có thể đề cập đến một hoặc nhiều tôn giáo, có thể đưa việc giảng dạy tôn giáo vào quy định pháp luật và sử dụng hệ tư tưởng của tôn giáo để định hướng pháp luật; hoặc hiến pháp có thể chỉ đơn gian công nhận tôn giáo và tự do tôn giáo. Khi các đức tin tôn giáo đa dạng hoặc có xung đột về tôn giáo, các nhà lập hiến phải đề cập đến nội dung này sao cho tạo ra một xã hội mà mọi cá nhân với những đức tin khác nhau có thể chung sống hòa bình. Các điều khoản của hiến pháp liên quan đến tôn giáo phản ánh lịch sử, văn hóa, truyền thống và hệ thống đức tin của một quốc gia. Chúng cũng đề cập đến mối quan hệ giữa tôn giáo với hiến pháp và luật hiến pháp. Có nhiều cách thức khác nhau để hiến pháp quy định về tôn giáo và các nguyên tắc tôn giáo, nhưng một nội dung cần quan tâm trong việc nhận thức về mối quan hệ giữa tôn giáo và hiến pháp là mức độ mà hiến pháp ràng buộc luật với tôn giáo. Câu hỏi ở đây là các nguyên tắc của bất kỳ một tôn giáo có ảnh hưởng như thế nào đến luật.

2. Một Hiến pháp có thể có liên quan mật thiết đến một tôn giáo nhất định

Một Hiến pháp có thể có liên quan mật thiết đến một tôn giáo nhất định nào đó. Ngược lại, một hiến pháp khác có thể ghi nhận nhiều tôn giáo, có thể không đề cập đến tôn giáo, mà cũng có thể quy định rạch ròi ranh giới giữa tôn giáo và nhà nước. Ở một thái cực, một hệ thống pháp luật có thể hoàn toàn gắn với một tôn giáo cụ thể. Một số hiến pháp lại ưu tiên hoặc thiên vị một tôn giáo hơn các tôn giáo khác. Thực tế nhiều quốc gia đã công nhận một tôn giáo chính thức trong hiến pháp. Theo hiến pháp của Costa Rica, Thiên chúa giáo là tôn giáo chính thức. Nhưng ngay tại quốc gia đã công nhận một tôn giáo chính thống, tầm ảnh hưởng của tôn giáo đến nhà nước cũng khác nhau nhiều. Một số hiến pháp ghi nhận rằng hệ thống pháp luật phải phù hợp với nguyên tắc của một tôn giáo nhất định. Các tổ chức hoặc nhân tố tôn giáo có thể tương tác với chính phủ hoặc can thiệp như một cơ quan chính phủ, như trường hợp của Iran. Ở các quốc gia khác, một khi tôn giáo được coi như nền tảng của hệ thống pháp luật, hiến pháp có thể trở thành một nhánh độc lập khỏi luật tôn giáo, như trường hợp của Iraq. Ngoài ra, tại các quốc gia khác, việc ghi nhận tôn giáo chính thống cũng chỉ mang tính biểu tượng hoặc do lịch sử để lại, về người đứng đầu tôn giáo không can thiệp vào chính sách của chính phủ. Một ví dụ khác của phân tản quyền lực xảy ra tại Indonesia, đất nước công nhận đa tôn giáo mà không ưu tiên bất kỳ tôn giáo nào. Nhiều hiến pháp không ghi nhận bất kỳ một tôn giáo chính thức nào. Hiến pháp của một số quốc gia, như Pháp, nhấn mạnh tính thế tục, tạo nên sự tách biệt rõ ràng giữa tôn giáo với hệ thống pháp luật và đời sống công cộng. Mặc dù hiến pháp đảm bảo tự do tôn giáo, nó cũng tách tôn giáo sang khu vực tư và bảo vệ hệ thống pháp luật khỏi ảnh hưởng của tôn giáo. Các chính sách của chính phủ hoặc luật đề cập đến tôn giáo và định ra những ranh giới giữa lĩnh vực công và tư. Một việc thực thi các đức tin tôn giáo vượt qua ranh giới này, tòa án có thể được viện cầu làm trọng tài xét xử. Một khía cạnh quan trọng khác của mối quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước là hình thành khái niệm tự do tôn giáo. Bất kể hiến pháp có ghi nhận tôn giáo chính thức hay không, có định hướng hoặc xây dựng luật từ những giáo lý tôn giáo hay không, hay hạn chế tối đa tầm ảnh hưởng của tôn giáo vào hoạt động của chính phủ, một hiến pháp dân chủ phải ghi nhận và bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Tự do tôn giáo được công nhận phổ biến trên toàn thế giới là một quyền con người cơ bản được bảo vệ bởi Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR). Mối quan hệ của nhà nước với tôn giáo không được hạn chế bất kỳ quyền nào được ghi nhận trông Công ước, bao gồm tự do tôn giáo và quyền hoạt động tôn giáo, cũng như không có bất kỳ sự phân biệt nào chống lại người không phải là thành viên hoặc không tham gia một tôn giáo nhất định nào.

3. Thống nhất một quốc gia chia rẽ về tôn giáo: Pancasila của Indonesia

Lời nói đầu trong Hiến pháp 1945 của Indonesia nhắc đến pancasila, triết lý về nhà nước được coi là nền tảng của pháp luật Indonesia. Khi soạn thảo năm nguyên tắc theo pancasila, Tổng thống Sukarno dự định thống nhất các hòn đảo riêng lẻ của Indonesia theo các nguyên tắc quốc gia cụ thể và đưa ra giải pháp cho mối quan hệ giữa đạo Hồi và nhà nước. Năm nguyên tắc của pancasila là: (1) một và chỉ một Đấng tối cao; (2) tinh thần nhân văn công bằng và văn minh; (3) sự thống nhất của Indonesia; (4) dân chủ; và (5) công bằng xã hội. Nói cách khác, tổng thể các nguyên tắc này nhằm đạt được sự thống nhất trong khi vẫn công nhận sự đa dạng ở Indonesia. Mặc dù có nguồn gốc từ lâu, pancasila và các nguyên tắc truyền thống của nó vẫn tồn tại đến ngày nay: Quốc hội Tư vấn Nhân dân đã tái thông qua các nguyên tắc này trong quá trình sửa đổi hiến pháp gần đây (1999-2002) với lý do rằng pancasila là biểu tượng của truyền thống và thống nhất dân tộc. Khi Quốc hội bắt đầu quá trình sửa đổi hiến pháp năm 1999, cơ quan này đã đưa ra một quyết định quan trọng là sửa đổi Hiến pháp thay vì soạn thảo một bản mới, trong đó giữ lại Lời nói đầu, bao gồm pancasila, và giữ lại hệ tư tưởng nhà nước tôn giáo.

4. Các nguyên tắc liên quan đến luật quốc tế

Luật quốc tế có nhiều nguyên tắc ảnh hưởng đến hiến pháp hiện đại. Để đạt được tính chính danh trong cộng đồng quốc tế, hiến pháp phải tuân thủ hầu hết các quy tắc nền tảng của luật quốc tế, ví dụ như tôn trọng quyền con người cơ bản. Tuy nhiên, vượt ra ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc tối thiểu đó để có được sự công nhận quốc tế, hiến pháp phải giải quyết nhiều vấn đề về luật quốc tế và quan hệ quốc tế. Hiến pháp thường ghi nhận cách thức nhà nước tuân thủ các nghĩa vụ theo điều ước, nhưng cách thức đó cũng khác biệt trong các hiến pháp khác nhau, thường thể hiện cái quan điểm về mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật quốc tế. Một vài hiến pháp ghi nhận trực tiếp rằng các nghĩa vụ quốc tế là một phần trực tiếp của hệ thống pháp luật quốc gia. Hiến pháp của Đông Timor ghi nhận rằng các quy định trong luật quốc tế được áp dụng trên lãnh thổ quốc gia “nếu được sự phê chuẩn, kí kết hoặc tham gia của các cơ quan có thẩm quyền, và sau khi được công bố trên công báo”. Quan niệm này về nghĩa vụ quốc tế, thường được gọi là nhất nguyên luận, có thể hiểu là nghĩa vụ quốc tế có giá trị cao hơn luật nội địa. Đó là trường hợp của Hiến pháp Cộng hòa Séc, ghi nhận rằng các hiệp ước “là một phần của luật nội địa” và các điều khoản của điều ước quốc tế cần được áp dụng ngay cả khi chúng “xung đột với luật quốc gia.” Hiến pháp của Hungary cũng ghi nhận trực tiếp các nghĩa vụ quốc tế nhưng không coi chúng có giá trị pháp lý cao hơn. Thay vào đó, hiến pháp quy định rằng luật quốc gia phải hài hòa hóa với các nghĩa vụ quốc tế. Hơn thế, Tòa án Hiến pháp Hungary cũng khẳng định rằng Hiến pháp và luật quốc gia nên được giải thích theo cách mà luật quốc tế công nhận. Theo một số hiến pháp khác, ví dụ như của Đức, tập quán quốc tế có giá trị ưu tiên so với luật quốc gia, nhưng các nghĩa vụ theo điều ước thì lại được coi như luật quốc gia. Khi có sự xung đột giữa nghĩa vụ theo điều ước và luật quốc gia, điều khoản nào mới hơn sẽ được áp dụng. Mặt khác, một số hiến pháp ghi nhận cái gọi là thuyết nhị nguyên luận, theo đó chính phủ phải nội luật hóa các nghĩa vụ quốc tế vào luật quốc gia để chúng có giá trị pháp lý. Yêu cầu này đòi hỏi nhánh lập pháp phải ban hành luật để điều ước có hiệu lực trong nước, mặc dầu theo luật quốc tế, điều ước đó đã có hiệu lực bắt buộc đối với quốc gia nói đến.

5. Đa số hiến pháp không chỉ tạo cơ sở để phê chuẩn

Đa số hiến pháp không chỉ tạo cơ sở để phê chuẩn và thực thi các điều ước, mà nhiều hiến pháp còn hợp nhất một số văn kiện của luật quốc tế - ví dụ như về quyền con người , hoặc một số điều khoản mẫu trong các văn kiện đó, tất cả có thể chi phối hoạt động của chính phủ về mặt pháp lý. Một số hiến pháp dẫn chiếu đến các điều ước cụ thể, số khác hợp nhất một số văn kiện của luật quốc tế vào hiến pháp. Theo Hiến pháp Nicaragua, toàn bộ các quyền được ghi nhận trong nhiều văn kiện, kể cả Công ước Quốc tế 1948 về Nhân quyền và Tuyên ngôn châu Mỹ về Quyền và Nghĩa vụ của người dân (cũng được thông qua năm 1948) được áp dụng cho tất cả các thiết chế chính phủ. Tương tự như vậy, Hiến pháp Ghana yêu cầu chính phủ “tuân thủ các nguyên tắc được thể hiện trong các điều ước cũng như các tổ chức quốc tế khác mà Ghana là thành viên. Hiến pháp cũng có thể viện dẫn đến một số điều ước cụ thể. Ví dụ, Lời nói đầu trong Hiến pháp của Cameroon khẳng định “sự tôn trọng đối với các tự do cơ bản được thể hiện trong Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế, Hiến chương LHQ và Hiến chương Châu Phi về quyền con người”. Trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, hành pháp quốc gia thường được cho là có thẩm quyền tham gia hoặc rút khỏi một thỏa thuận quốc tế. Tuy nhiên, một số hiến pháp yêu cầu sự thông qua của nhánh lập pháp về điều ước, thậm chí là sự tham gia của nhánh tư pháp. Một giới hạn khác đối với hành pháp trong lĩnh vực này có thể là một cuộc trưng cầu dân ý bắt buộc hoặc không bắt buộc để giải quyết vấn đề quan hệ quốc tế - ví dụ như tham gia một tổ chức siêu quốc gia như Cộng đồng chung châu Âu. Trong cấu trúc hiến pháp phân tản quyền lực của chính phủ, các nguyên tắc liên quan đến quan hệ quốc tế có thể phải có sự tham gia hoặc thậm chí kiểm soát bởi chính quyền vùng hoặc địa phương. Trong một số trường hợp, hiến pháp có thể cho phép chính quyền vùng tham gia vào hiệp ước quốc tế. Ví dụ Hiến pháp Argentina ghi nhận rằng các tỉnh có thể tham gia điều ước trong một số trường hợp cụ thể, nhưng không được trái với chính sách đối ngoại quốc gia hoặc luật quốc gia. Các hành vi và các thỏa thuận mâu thuẫn giữa các vùng có thể là vấn đề nghiêm trọng và chính phủ trung ương lo ngại đối mặt với rủi ro sụp đổ nếu các vùng được đảm bảo quá nhiều quyền tự trị trong quan hệ quốc tế, do vậy, đa số quốc gia giữ lại ở cấp quốc gia quyền quyết định trong hoạt động quan hệ quốc tế và kiểm soát quân đội.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )