Bộ pháp điển là văn bản lớn nên thường phải có câu trúc lớn hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật thông thường để bảo đảm thuận tiện cho việc thể hiện một cách rõ ràng các nội dung của bộ pháp điển. Luật, pháp lệnh có đơn vị bố cục là phần, chương, mục, điều, khoản, điểm. Đối với bộ pháp điển, có thể quy định bố cục theo hướng: Bộ pháp điển được câu trúc theo các chủ đề; dưới mỗi chủ đề sẽ được chia thành các phần. Tùy thuộc vào từng chủ để pháp điển, mỗi phần có thể có một hoặc nhiều cơ quan khác nhau thực hiện pháp điển (cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản đó). Trong mỗi phần của bộ pháp điển, các quy định cụ thể được chia thành các chương, mục, điều, khoản, điểm tương tự như bố cục của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

1. Cơ sở pháp lý

Về cơ bản, Pháp lệnh pháp điển và các văn bản quy định chi tiết thi hành như: Nghị định số 63/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Thông tư số 13/2014/TT-BQP ngày 29/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc thực hiện pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 06/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục các đề mục trong mỗi chủ để và phân công cơ quan thực hiện pháp điển theo các đề mục và Quyết định số 1267/QĐ-TTg ngày 06/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án xây dựng Bộ pháp điển đã quy định một cách cụ thể về cấu trúc của Bộ pháp điển. Qua đó, có thể khai quát cấu trúc Bộ pháp điển như sau:
Điều 6 Pháp lệnh pháp điển quy định Bộ pháp điển được cấu trúc theo các chủ đề. Mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục. Trong mỗi đề mục, tùy theo nội dung có thể có phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm. Trong Bộ pháp điển, đề mục, phần, chương, mục, tiểu mục, điều được đánh số thứ tự, trường hợp có liên quan đến nội dung khác của Bộ pháp điển thì phải được chỉ dẫn. Các điều trong Bộ pháp điển được ký hiệu để phân biệt hình thức văn bản quy phạm pháp luật và được ghi chú để nhận biết điều của văn bản quy phạm pháp luật được pháp điển.

2. Chủ đề của bộ pháp điển

Chủ đề là bộ phận cấu thành của Bộ pháp điển, trong đó chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội nhất định được xác định theo lĩnh vực (trong mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục). Tên mỗi chủ đề được xác lập theo quy định tại Điều 7 Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật năm 2012:

Các chủ đề trong Bộ pháp điển được quy định và sắp xếp như sau: 1. An ninh quốc gia; 2. Bảo hiểm; 3. Bưu chính, viễn thông; 4. Bổ trợ tư pháp; 5. Cán bộ, công chức, viên chức; 6. Chính sách xã hội; 7. Công nghiệp; 8. Dân số, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới; 9. Dân sự; 10. Dân tộc; 11. Đất đai; 12. Doanh nghiệp, hợp tác xã; 13. Giáo dục, đào tạo; 14. Giao thông, vận tải; 15. Hành chính tư pháp; 16. Hình sự; 17. Kế toán, kiểm toán; 18. Khiếu nại, tố cáo; 19. Khoa học, công nghệ; 20. Lao động; 21. Môi trường; 22. Ngân hàng, tiền tệ; 23. Ngoại giao, điều ước quốc tế; 24. Nông nghiệp, nông thôn; 25. Quốc phòng; 26. Tài chính; 27. Tài nguyên; 28. Tài sản công, nợ công, dự trữ nhà nước; 29. Thi đua, khen thưởng, các danh hiệu vinh dự nhà nước; 30. Thi hành án; 31. Thống kê; 32. Thông tin, báo chí, xuất bản; 33. Thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác; 34. Thương mại, đầu tư, chứng khoán; 35. Tổ chức bộ máy nhà nước; 36. Tổ chức chính trị - xã hội, hội; 37. Tố tụng, và các phương thức giải quyết tranh chấp; 38. Tôn giáo, tín ngưỡng; 39. Trật tự an toàn xã hội; 40. Tương trợ tư pháp; 41. Văn hóa, thể thao, du lịch; 42. Văn thư, lưu trữ; 43. Xây dựng, nhà ở, đô thị; 44. Xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật; 45. Y tế, dược.

Ví dụ, trong đó, Chủ đề số 2 “Bảo hiểm” chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội về bảo hiểm như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh doanh bảo hiểm.

Ngoài 45 chủ đề theo quy định hiện nay thì trong một số trường hợp có thể thêm hoặc bớt các đề mục. Cụ thể, Khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh pháp điển và Điều 1 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định trường hợp có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội chưa thuộc các chủ đề đã có trong Bộ pháp điển thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan thực hiện pháp điển đề nghị Chính phủ quyết định bổ sung chủ đề. Chủ đề bổ sung được sắp xếp và đánh số thứ tự kế tiếp sau chủ đề cuối cùng đã có trong Bộ pháp điển.

3. Đề mục của bộ pháp điển

Đề mục là bộ phận cấu thành chủ đề, trong đó chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định. Tên gọi của đề mục là tên gọi của văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội thuộc chủ đề. Theo tên gọi của từng đề mục, các đề mục trong mỗi chủ đề được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt và được đánh số theo chữ số Ả rập, bắt đầu từ số 1.
Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 06/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục các đề mục trong mỗi chủ đề và phân công cơ quan thực hiện pháp điển theo các đề mục (265 đề mục thuộc 45 chủ đề).

Ví dụ: Trong chủ đề “Dân sự” (chủ đề số 9) có các đề mục sau: (1) Đề mục “Dân sự” (thứ tự 1): tên gọi của đề mục là tên gọi của văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Bộ luật Dân sự; (2) Đề mục “Đăng ký giao dịch bảo đảm” (thứ tự số 2): tên gọi của đề mục là tên gọi của văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; (3) Đề mục “Giao dịch bảo đảm”: tên gọi của đề mục là tên gọi của văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Ngoài 265 đề mục theo Quyết định số 843/QĐ-TTg thì Khoản 2 Điều 13 Pháp lệnh pháp điển quy định: Trong trường hợp có quy phạm pháp luật mới được ban hành chưa thuộc đề mục đã có trong Bộ pháp điển, cơ quan được quy định tại Điều 4 Pháp lệnh pháp điển đề xuất tên đề mục, vị trí của đề mục gửi Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung đề mục và phân công cơ quan thực hiện.

4. Phần, chương, mục, tiểu mục

Phần, chương, mục, tiểu mục là bộ phận cấu thành của đề mục, chứa đựng các điều của Bộ pháp điển. Các phần, chương, mục, tiểu mục của đề mục cơ bản được cấu trúc theo các phần, chương, mục, tiểu mục của văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cấu trúc của đề mục (các Phần, chương, mục, tiểu mục) có thể thay đổi như:

- Trường hợp văn bản có tên gọi được sử dụng làm tên gọi của đề mục được sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ một phần của của bản làm thay đổi cấu trúc ban đầu của văn bản được sửa đổi, bổ sung;

- Trường hợp các điều của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành không sắp xếp được theo quy định tại Điều 11 của Nghị định Nghị định số 63/2013/NĐ-CP thì có thể bổ sung thêm cấu trúc tương ứng cho phù hợp (Phần, chương, mục, tiểu mục). Vị trí phần, chương, mục bổ sung được sắp xếp ngay sau phần, chương, mục có nội dung liên quan nhất.

5. Điều trong bộ pháp điển

Điều là bộ phận cấu thành của phần, chương, mục, tiểu mục trong Bộ pháp điển; nội dung của mỗi điều trong Bộ pháp điển là nội dung của điều tương ứng trong văn bản được pháp điển. Số của điều trong Bộ pháp điển được thực hiện theo quy định tại Khoản 3, Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP. Các điều trong Bộ pháp điển được ghi chú để chỉ rõ điều của văn bản quy phạm pháp luật được pháp điển. Điều có cấu trúc gồm: số Điều; tên Điều; nội dung của Điều; ghi chú và chỉ dẫn trong Điều. Trong đó:

- Số của Điều: các điều của văn bản khi đưa vào Bộ pháp điển được ghi lại số theo quy định tại Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP “Số thứ tự của chủ đề; dấu chấm; số thứ tự của đề mục; dấu chấm; ký hiệu về hình thức của văn bản được pháp điển; dấu chấm; số thứ tự của văn bản đối với văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (nếu có); dấu chấm; số của điều tương ứng trong văn bản được pháp điển; dấu chấm”.

- Tên của Điều: Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định tên gọi của điều trong Bộ pháp điển là tên gọi của điều tương ứng trong văn bản được pháp điển.

6. Bổ sung chủ đề, đề mục mới vào Bộ pháp điển

- Điều 7 Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật đã xác định Bộ pháp điển gồm có 45 chủ đề điều chỉnh 45 nhóm quan hệ xã hội. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh pháp điển quy định "Chính phủ quyết định bổ sung chủ đề mới theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp".

Trường hợp bổ sung chủ đề mới: Điều 1 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định "Trường hợp có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội chưa thuộc các chủ đề đã có trong Bộ pháp điển thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan thực hiện pháp điển đề nghị Chính phủ quyết định bổ sung chủ đề. Chủ đề bổ sung được sắp xếp và đánh số thứ tự kế tiếp sau chủ đề cuối cùng đã có trong Bộ pháp điển".

- Việc bổ sung đề mục mới vào Bộ pháp điển là trường hợp khi Bộ pháp điển đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước đấy chưa có đề mục đó (Danh mục các đề mục đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 06/6/2014), chẳng hạn như việc một luật mới, một pháp lệnh mới hay “một nghị định không đầu” được ban hành mà chưa có trong hệ thống pháp luật. Khi đó, theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 13 Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, cơ quan thực hiện pháp điển (các cơ quan được quy định tại Điều 4 của Pháp lệnh) đề xuất tên đề mục, vị trí của đề mục mới trong Bộ pháp điển gửi Bộ Tư pháp để xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung đề mục và phân công cơ quan thực hiện.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)