Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
Có thể thấy rằng Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã liệt kê cụ thể một số loại văn bản tố tụng, giấy tờ do Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo. Ngoài ra tại khoản 5 của Điều luật này còn có quy định mang tính chất mở, đó là “các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định”. Sở dĩ các nhà lập pháp đưa ra điều luật này là do trong quá trình thực hiện các giai đoạn, thủ tục tố tụng dân sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải ban hành nhiều văn bản tố tụng khác nhau. Do vậy việc liệt kê các văn bản sẽ là không đủ để có bao quát hết cũng như làm giới hạn phạm vi văn bản tố tụng mà cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành. Khoản 5 điều luật quy định mở sẽ góp phần hạn chế được tính lạc hậu của quy phạm, đồng thời đáp ứng nhu cầu bổ sung các văn bản tố tụng trong tương lai một cách dễ dàng và khoa học. Trên thực tế, các loại văn bản tố tụng do Tòa án ban hành bao gồm:
2.Các bản án
Đây là văn bản tố tụng thể hiện kết quả xét xử của Tòa án về một vụ việc dân sự. Trong bản án phải nêu rõ: thời gian mở phiên tòa, thành phần HĐXX, các bên tham gia tố tụng, nội dung sự việc, nhận định và quyết định của Tòa án. Thông thường nếu phân loại theo cấp xét xử thì bản án có hai loại là bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm.
3.Trích lục bản án
là sao chép lại nguyên văn những nội dung cần thiết trong bản án theo quy định của pháp luật (thông thường nội dung sao chép là phần quyết định trong bản án). Trích lục chỉ có giá trị pháp lý khi được cơ quan hoặc người có thẩm quyền chứng thực. Theo quy định của pháp luật, sau khi tuyên án, Tòa án phải cấp trích lục bản án cho đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ khi có yêu cầu. Ngoài ra Tòa án cũng có thể cấp trích lục bản án cho cơ quan, cá nhân khác nếu có yêu cầu nếu xét thấy việc cấp trích lục bản án là cần thiết để có cơ sở giải quyết những việc có liên quan đến vụ án.
4. Các loại quyết định
Như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự; Quyết định chuyển vụ án; Quyết định định giá tài sản; Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; Quyết định thay đổi, áp dụng, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyết định giải quyết việc dân sự; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm... Trong đó, Quyết định của tòa án là văn bản tố tụng dân sự thể hiện nhận định và ý chí của Tòa án về một vấn đề cụ thể đang được xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự; được áp dụng một lần với một hay một số người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người có liên quan.
5. Các loại thông báo
Như: Thông báo yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện; Thông báo trả lại đơn khởi kiện; Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí định giá, giám định; Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Thông báo thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa; Thông báo về việc kháng cáo; Thông báo về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo kháng nghị phúc thẩm... Việc ban hành các thông báo này nhằm truyền tải thông tin đến người nhận, báo cho đương sự, những người tham gia tố tụng được biết nội dung chính mà Toà án sẽ tiến hành làm việc để giải quyết vụ việc cụ thể nào đó.
6. Các loại giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự
Đây là các văn bản tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án ban hành; được cấp, tống đạt hoặc thông báo đến người tham gia tố tụng, người có liên quan để biết và thực hiện. Giữa các văn bản này khác nhau ở điểm:
+ Đối với giấy báo, đây là văn bản tố tụng mang tính chất truyền tải thông tin từ cơ quan tiến hành tố tụng,cơ quan thi hành án đến người tiếp nhận để họ được biết và sử dụng các thông tin đó. Các loại giấy báo như: giấy báo nhận đơn, giáo báo đương sự tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải…
+ Giấy triệu tập là văn bản tố tụng mang tính cưỡng chế, buộc người tiếp nhận phải thực hiện đúng theo nội dung văn bản. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì phải các chế tài hành chính hoặc nặng nhất là truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào tính chất, mức độ cụ thể của hành vi. Các loại giấy triệu tập như: Giấy triệu tập lấy lời khai, Giấy triệu tập tham gia hòa giải, Giấy triệu tập tham gia phiên toà xét xử...
+ Giấy mời được coi là văn bản tố tụng dễ chịu hơn giấy triệu tập. Đây là lời mời từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan THA đề nghị người tiếp nhận cùng hợp tác giải quyết vụ việc dân sự hoặc thi hành án dân sự. Với văn bản tố tụng này, người tiếp nhận có quyền từ chối và không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào. Các loại giấy mời như: Giấy mời Hội thẩm nhân dân, Giấy mời Kiểm sát viên tham gia phiên toà; Giấy mời tham gia định giá tài sản.
- Đơn khởi kiện, đơn kháng cáo. Trong đó: đơn khởi kiện là văn bản tố tụng do cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi một hoặc nhiều chủ thể khác hay người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu Tòa án có thẩm quyền công nhận và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đó. Quy định về đơn khởi kiện được quy định tại các Điều 189, 190 Bộ LUậT Tố TụNG DÂN Sự. Còn đơn kháng cáo là văn bản tố tụng do đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đang còn trong thời gian kháng cáo. Đơn kháng cáo hợp lệ là đơn đáp ứng đầy đủ các quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm. Mục đích của loại văn bản này là nhằm xác nhận sự việc đương sự đã nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, đơn đề nghị tại cơ quan Toà án cùng với các giấy tờ, tài liệu kèm theo để làm căn cứ cho yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự của họ. Trong nội dung của giấy xác nhận, thông thường Toà án cũng nêu rõ thời gian, địa điểm mà đương sự có thể đến nhận kết quả trả lời đơn.
- Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm. Mục đích của loại văn bản này là nhằm xác nhận sự việc đương sự đã nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, đơn đề nghị tại cơ quan Toà án cùng với các giấy tờ, tài liệu kèm theo để làm căn cứ cho yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự của họ. Trong nội dung của giấy xác nhận, thông thường Toà án cũng nêu rõ thời gian, địa điểm mà đương sự có thể đến nhận kết quả trả lời đơn.
- Các loại biên bản như: biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, biên bản phiên toà, biên bản hòa giải thành, biên bản về việc giao nhận chứng cứ, biên bản làm việc, biên bản xác minh, biên bản lấy lời khai... Bằng việc lập biên bản, thẩm phán hoặc thư ký ghi chép lại những sự việc thực tế đã và đang xảy ra trong quá trình giải quyết vụ việc, các biên bản này sẽ được lưu vào hồ sơ vụ án và sử dụng chúng để làm căn cứ chứng minh cho việc thực hiện các thủ tục tố tụng theo trình tự luật định. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng đưa ra quy định cụ thể về thẩm quyền, nội dung, hình thức đối với việc lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; biên bản phiên toà tại Điều 211 và Điều 236. Bởi đây là 2 loại văn bản quan trọng trong việc đánh giá sự thật khách quan của vụ việc, là căn cứ để thẩm phán ra các quyết định theo đúng quy định pháp luật.
Trong quá trình áp dụng pháp luật, để soạn thảo và ban hành đúng, thống nhất các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Toà án, ngày 13/01/2017 Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành 93 biểu mẫu trong TTDS, được quy định rõ tại Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/02/2017). Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế, giúp cho các cơ quan tố tụng khỏi lúng túng trong việc ban hành VBTTDS theo thẩm quyền.
Tùy từng loại văn bản tố tụng khác nhau mà thời hạn thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự là khác nhau. Tại Điều 269 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được Toà án cấp trích lục bản án trong thời hạn 03 ngày làm việc ngày kết thúc phiên toà. Đối với Thông báo về việc thụ lý vụ án phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với các loại Quyết định như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự và VKS cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định (Điều 220); Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án phải được cấp cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và VKS cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định (khoản 2 Điều 214, khoản 3 Điều 217); Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự phải được gửi cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và VKS cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn (Điều 216). Đối với đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho VKS cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo kèm theo bản sao đơn kháng cáo, tài liệu, chứng cứ bổ sung mà người kháng cáo gửi kèm đơn kháng cáo sau khi nhận được đơn kháng cáo hợp lệ (Điều 277).
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê