Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
Việt Nam cũng như các nước phát triển trên thế giới rất đề cao quyền công dân, một trong các quyền của công dân được Nhà nước bảo đảm thực hiện, đó chính là quyền được bảo vệ đối với người dưới 18 tuổi khi họ phạm tội.
1.1 Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự
Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của chủ thể của tội phạm là cá nhân (thể nhân) tại Điều 12, theo đó: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật hình sự có quy định khác; Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự tội rất nghiệm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng”.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì độ tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi trở lên. Để thuộc khái niệm người chưa thành niên phạm tội, những người này vừa phải thõa mãn điều kiện về chủ thể của tội phạm theo quy định tại Điều 12 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì vừa phải thỏa mãn điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự. Từ trình bày trên, người dưới 18 tuổi phạm tội là người phải có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
1.2 Bị can là người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự
Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì bị can là người dưới 18 tuổi phạm tội là người mà tại thời điểm họ bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố khi có hành vi phạm tội phải từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trong BLTTHS hiện hành quy định về quyền bào chữa là một trong những quy định rất quan trọng. Bất kỳ người nào bị phạm tội khi tham gia tố tụng đều có quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Quyền này cũng được quy định tại Điều 31 của Hiến pháp năm 2013. Như vậy, quyền bào chữa của bị can dưới 18 tuổi phạm tội phát sinh từ lúc người đó bị bắt, tạm giam, tạm giữ. Quyền này xuất phát từ nguyên lý có buộc tội thì phải có gỡ tội.
Pháp luật hình sự được xây dựng trên nền tảng của Hiến pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Theo đó, người bị buộc tội cụ thể là bị can dưới 18 tuổi có quyền tự bảo vệ mình và nhờ người khác bảo vệ theo quy định để chứng minh rằng mình không có tội trước cơ quan tiến hành tố tụng, đó gọi là quyền bào chữa. Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa và công cuộc CCTP ở Việt Nam hiện nay, vấn đề đảm bảo quyền con người trong đó có quyền bào chữa là một trong những nội dung quan trọng, đặt lên hàng đầu. Hiện nay, trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam chưa đưa ra khái niệm thế nào là quyền bào chữa, chính vì không đề cập đến khái niệm quyền bào chữa cho nên nội dung bào chữa, phạm vi bào chữa, chủ thể bào chữa và cơ chế đảm bảo quyền bào chữa chưa được xác định rõ ràng và thiếu thống nhất. Do đó đã trực tiếp làm giảm chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự và quyền của bị can là người dưới 18 tuổi chưa được bảo đảm.
Về cơ bản, những nội dung quy định quyền bào chữa cho người dưới 18 tuổi phạm tội và người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội khá giống nhau. Từ đó, có thể khái quát quyền bào chữa của bị can dưới 18 tuổi phạm tội là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định bị can là người dưới 18 tuổi phạm tội có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ.
2. Ý nghĩa của bào chữa cho bị can dưới 18 tuổi phạm tội
Quyền bào chữa đảm bảo cho người bị buộc tội nói chung và cho bị can dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng thực hiện đầy đủ quyền bào chữa. Đồng thời đảm bảo cho các cơ quan tố tụng phải đảm bảo để người bị buộc tội thực hiện quyền này của họ, có thể thông qua chính bản thân họ và thông qua người khác bào chữa theo quy định. Nghiêm cấm các hành vi gây cản trở, khó khăn, xâm phạm đến quyền bào chữa.
Các nhà lập pháp của nước ta đã nhận thức được ý nghĩa to lớn về quyền bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự nên ngay từ khi BLTTHS đầu tiên ra đời năm 1988 và đến nay thì BLTTHS năm 2015 đã đề cập đến quyền này.
Đối với đối tượng là người dưới 18 tuổi, do những hạn chế nhất định về sự phát triển thể chất cũng như tinh thần, cho nên họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ nếu không có người bào chữa trong quá trình điều tra. Chính vì vậy rất cần có sự tham gia của người bào chữa trong những vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Trên cơ sở cụ thể hóa nguyên tắc quy định tại Điều 31 Hiến pháp năm 2013, tại Điều 16 của BLTTHS năm 2015 quy định về bảo đảm quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi như sau: “Người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người dưới 18 tuổi, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.
Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, công bằng, tránh bỏ sót tội phạm, không xuất hiện tình trạng oan sai thì việc bào chữa là rất cần , giúp cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật của vụ án. Mặt khác, để một vụ án hình sự được giải quyết tốt thì trong quá trình giải quyết vụ án hình sự luôn luôn phải tồn tại song song hai cơ chế: Cơ chế buộc tội thuộc về Nhà nước và cơ chế gỡ tội thuộc về bên yếu thế (có thể nói cách khác là quyền bào chữa).
Tóm tại, quyền bào chữa cho bị can dưới 18 tuổi phạm tội không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ mà còn là điều kiện để đảm bảo hiệu quả của các hoạt động tố tụng hình sự như hoạt động điều tra, truy tố … hay nói cụ thể hơn là thể hiện bản chất tốt đẹp, nhân văn của Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa.
3. Nội dung quyền bào chữa cho bị can là người dưới 18 tuổi phạm tội
Tại Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 quy định: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định độ tuổi thành niên sớm hơn”. Bên cạnh đó, do đặc thù (Khí hậu, dinh dưỡng, văn hóa, tôn giáo,…) của mỗi quốc gia khác nhau nên sự phát triển của trẻ em cũng không đồng đều như nhau nên khái niệm người chưa thành niên không thống nhất nên Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em vẫn còn nhiều điều khoản để tùy theo từng quốc gia quy định về độ tuổi.
Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm trẻ em ở nước Việt Nam chúng ta đều thống nhất ở giới hạn là dưới 18 tuổi, từ đó pháp luật đưa ra quy định về độ tuổi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa truyền thống của quốc gia đó, đặc thù của người người dưới 18 tuổi là có sự hạn chế về nhận thức, tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện. Do đó, việc xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Người dưới 18 tuổi được quy định trong hệ thống pháp luật của nước ta tương đối thống nhất ở các đạo luật: Hiến pháp năm 2013; BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, BLTTHS năm 2015; Bộ luật lao động; Bộ luật Dân sự; Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Các văn bản pháp luật trong từng lĩnh vực đều quy định về độ tuổi để có quy định riêng như trong BLHS năm 1988, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2005 đều quy định một chương riêng về người dưới 18 tuổi phạm tội.
Hiện nay, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì người phạm tội chưa hẳn đã có tội do đó họ được hưởng các quyền trong quá trình tố tụng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Quy định này đặt ra yêu cầu cho các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng phải thận trọng, khách quan, có trách nhiệm làm rõ các chứng cứ để buộc tội cũng như gỡ tội, để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, tránh làm oan người vô tội và bỏ lọt người phạm tội được quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015.
Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự luôn song hành với sự suy đoán vô tội, không phải chống lại sự buộc tội mà khẳng định quyền bào chữa là quyền nhằm hạn chế, phòng ngừa các chủ thể tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm pháp luật. Nếu các chủ thể tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm pháp luật thì người dưới 18 tuổi phạm tội có quyền khiếu nại, kháng cáo đối với hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với họ. Do đó, cần phải nâng cao hoạt động tố tụng cho các chủ thể tiến hành tố tụng vì đây là chủ thể đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng buộc tội.
Theo quy định tại Điều 16 BLTTHS 2015 nêu rõ về việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội: “Người bị buộc có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”. Theo Điều này quyền bào chữa hoặc nhờ người bào chữa của người dưới 18 tuổi phạm tội tuy chưa rõ ràng nhưng với quy định thì người dưới 18 tuổi là bị can đương nhiên sẽ có đầy đủ quyền tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa, đồng thời cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho người phạm tội đặc biệt là bị can dưới 18 tuổi thực hiện quyền bào chữa của mình.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê