1. Khái niệm incoterms:

Incoterms là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh: International Commerce Terms. Đây tập hợp các quy tắc thương mại quốc tế quy định về trách nhiệm của các bên trong hợp đồng ngoại thương.

Incoterms là các điều khoản thương mại quốc tế được chuẩn hóa, và được nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới công nhận và sử dụng rộng rãi. Nội dung chính của các điều khoản này phải kể tới 2 điểm quan trọng:

+ Trách nhiệm của bên mua, bên bán đến đâu

2. Giới thiệu về incoterms

Tổng quan về incoterms:

+ Điểm chuyển giao trách nhiệm, chi phí, rủi ro từ người bán sang người mua

Cơ quan soạn thảo và ban hành Incoterm 2010 là Ủy ban Luật và Tập quán Thương mại quốc tế - Phòng Thương mại quốc tế (ICC).

Nội dung của Incoterms 2010 chưa đựng các dạng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Chủ yếu là quy định về nghĩa vụ, chi phí, rủi ro trong quá trình giao hàng.

Lịch sử việc hình thành và ra đời của Incoterms

+ Incoterms được bắt đầu soạn thảo năm 1921

+ Bản Incoterms đầu tiên được ban hành năm 1936

+ Incoterms đã được tiến hành sửa đổi bổ xung tổng cộng là 06 lần.

Nói đến đây không thể không nói đến giá trị pháp lý của Incoterms

+ Các bản Incoterms đều có giá trị pháp lý ngang bằng nhau.

+ Thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế có giá trị cao nhất.

Mỗi bản Incoterms lại đưa ra một số điều kiện giao hàng khác nhau. Ví dụ: Incoterms 2010 có tất cả 13 điều kiện giao hàng, Incoterms 1936 lại có 06 điều kiện giao hàng khác nhau.

3. Cấu tạo điều kiện của Incoterms:

+ Mỗi điều kiện trong Incoterms là một dạng hợp đồng.

+ Mỗi điều chứa đựng 10 nghĩa vụ cơ bản của người bán )từ A1 đến A10) và 10 nghĩa vụ cơ bản của người mua (từ B1 đến B10)Khi sử dụng Incoterms cần lưu ý một số vấn đề cơ bản sau:

- Thời điểm phân chia chi phí và thời điểm phân chia rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

- Các chi phí cần quan tâm như: thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, chi phí thông quan, chi phí vận tải, chi phí bảo hiểm, chi phí phát sinh,...

Phương tiện vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, đa phương thức,...

Incoterms không điều chỉnh hợp đồng vận tải và hợp đồng bảo hiểm.

4. Phiên bản Incoterm năm 2010 và phiên bản Incoterms năm 2000

Incoterms là chữ viết tắt từ tiếng Anh của các điều kiện thương mại quốc tế (International Commercial Terms). Incoterms là quy tắc chính thức của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) về giải thích các điều kiện thương mại, vốn được áp dụng phổ biến trong giao dịch thương mại quốc tế, nhằm tạo điều kiện cho các giao dịch thương mại quốc tế nói chung và việc ký kết hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng được diễn ra một cách trôi chảy. Incoterms được ICC xuất bản lần đầu tiên vào năm 1936, ban đầu xác định 9 điểu kiện thương mại, hai điều kiện quen thuộc nhất là FOB (giao hàng lên tàu tại cảng đi) và CIF (giao hàng qua mạn tàu - tại cảng đến) và với mỗi điều kiện, liệt kê nghĩa vụ của người bán và người mua dưói hình thức rất đơn giản: “người mua có nghĩa vụ..., người bán có nghĩa vụ...”. Từ đó cho đến nay, Incoterms thường xuyên được cập nhật, được bổ sung để kịp thời phản ánh những thay đổi của thương mại toàn cầu và giới doanh nhân quốc tế, kể cả các doanh nghiệp XNK Việt Nam đã từng thấy được những thay đổi đáng kể giữa bản Incoterms năm 1980 và bản Incoterms năm 1990.

Bản Incoterms năm 2000 ra đời nàm 2000 đã cân nhắc tới sự xuất hiện của nhiều khu vực miễn thủ tục hải quan và sự áp dụng ngày càng phổ biến các phương tiện điện tử trong quá trình ký kết các hợp đồng thương mại quôc tế cũng như những thay đổi về tập quán vận tải, tập quán giao nhận... Incoterms nàm 2000 quy định 13 điểu kiện thương mại quốc tế với những hướng dẫn rõ ràng, cụ thể và đơn giản hơn các bản Incoterms trước.

Việc dẫn chiếu đến Incoterms năm 2000 trong một hợp đồng thương mại quốc tế sẽ giúp các bên phân định rõ ràng nghĩa vụ tương ứng của các bên và làm giảm thiểu những rủi ro về mặt pháp lý do có sự giải thích khác nhau về những điều kiện đó tại các nưốc khác nhau. Tuy nhiên, khi áp dụng Incoterms vởi ý nghĩa là tập quán quốc tế các doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý về phạm vi áp dụng của Incoterms.

Bảng cách sắp xếp Incoterms năm 2000

Nhóm E: Nơi đi

EXW

Giao tại xưởng (...địa điểm quy định)

Nhóm F: Tiền vận chuyển chưa trả

FCA

Giao cho người chuyên chở (... địa điểm quy định)

FAS

Giao dọc mạn tàu (...cảng bốc hàng quy định)

FOB

Giao lên tàu (...cảng bôc hàng quy định)

Nhóm C: Tiền vận chuyển đã trả

CFR

tiền hàng và cước phí (... cảng đến quy định)

CIF

Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí (... cảng đêh quy định)

CPT

Cước phí trả tới (... nơi đến quy định)

CIP

Cưởc phí và bảo hiểm trả tới (... nơi đến quy định)

Nhóm D: Nơi đến

DAF

Giao tại biên giói (... địa điểm đến quy định)

DES

Giao tại tàu (... cảng đến quy định)

DEQ

Giao tại cầu cảng (... cảng đến quy định)

DDU

Giao hàng chưa nộp thuế (... nơi đến quy định)

DDP

Giao hàng đã nộp thuế (... nơi đến quy định)

Cùng với tiến trình tự do hóa thương mại và sự xuất hiện các khu vực thương mại tự do với nhiều thủ tục hải quan được miễn áp dụng, đặc biệt cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử và những thay đôi của tập quán vận tải quốc tế, một lần nữa Incoterms lại tiếp tục được sửa đổi với sự ra đời của Incoterms năm 2010. Incoterms năm 2010 có hiệu lực từ ngày 1/1/2011. Tuy nhiên, bản Incoterms 2010 không quy định rằng bản Incoterms năm 2000 hết hiệu lực. Nghĩa là các doanh nghiệp trên toàn thế giới vẫn có quyền lựa chọn các điều kiện trong từng bản Incoterms 2000 hoặc 2010 để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, cần nắm được sự khác nhau giữa hai phiên bản này.

Incoterms năm 2010 có nhiều điểm thay đổi so với Incoterms năm 2000. Những điểm thay đổi đáng kể là:

-        Các điều kiện giao hàng trong Incoterms năm 2010 đã được rút gọn lại, chỉ còn có 11 điều kiện, so với 13 điều kiện theo Incoterms 2000.

-          Bốn điều kiện giao hàng là DAF, DES, DEQ, DDU trong Incoterms năm 2000 đã được thay thế bằng hai điều kiện mối là DAT và DAP.

-        Cách sắp xếp Incoterms năm 2010

I.       Các điều kiện dùng cho nhiều phương thức vận tải

1.       EXW Giao tại xưởng (...địa điểm quy định)

2.       FCA Giao cho người chuyên chở (...địa điểm giao hàng quy định)

3.       CPT Cước phí trả tới (...nơi đến quy định)

4.       CIP Cước phí và bảo hiểm trả tối (...nơi đến quy định)

5.       DAT Giao hàng tại bến (...nơi đến quy định)

6.       DAP Giao hàng tại nơi đến (... nơi đến quy định)

7.       DDP Giao hàng đã thông quan nhập khẩu (...nơi đến quy định)

II.      Các điều kiện áp dụng cho vận tải biển và vận tải thủy nội địa

8.       FAS Giao dọc mạn tàu (...tên cảng bốc hàng quy định)

9.       FOB Giao hàng trên tàu (...cảng bốc hàng quy định)

10.     CFR Tiền hàng và cước phí (...cảng đến quy định)

11.     CIF Tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí (... cảng đến quy định)

-        Incoterms năm 2010 được áp dụng cho cả hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và hợp đồng mua bán hàng hóa nội địa.

Đây là điểm khác nhau rất cơ bản giữa Incoterms năm 2000 và năm 2010. Việc Incoterms năm 2010 được áp dụng cho cả hợp đồng mua bán hàng hóa nội địa cho thấy hiện nay, tại nhiều nước trên thê giối sự phát triển của các khu vực thương mại, ví dụ như EU, đã khiến các thủ tục tại biên giới giữa các quốc gia không còn quan trọng nữa và việc phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước chỉ mang tính tương đối. Ngoài ra, thực tế cho thấy các thương nhân trên thế giới vẫn thường sử dụng các điều kiện trong Incoterms cho cả các hợp đồng mua bán nội địa, ví dụ, các thương nhân Mỹ thường thích sử dụng các điều kiện của Incoterms hơn là các điều kiện giao hàng trong Bộ luật Thương mại Thống nhất (UCC).

-        Incoterms năm 2010 thừa nhận các trao đổi thông tin bằng điện tử có giá trị pháp lý tương đương với việc trao đổi thông tin bằng văn bản, nếu cốc bên đồng ý hoặc theo tập quán.

Quy định này sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của các hình thức giao dịch điện tử mới khi các bên áp dụng Incoterms 2010.

-        Incoterms năm 2010 đưa ra sự giải tích về về ý nghĩa của nhiều thuật ngữ như: người chuyên chở; giao hàng; chứng từ giao hàng; đóng gói; chứng từ hoặc quy trình điện tử; thủ tục hải quan... nhằm tạo sự thống nhất trong cách hiểu khi áp dụng Incoterms năm 2010.

5. Về phạm vi áp dụng Incoterms

Các Incoterms (2000 và 2010) chỉ điều chỉnh những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán mà đối tượng của nó là hàng hóa hữu hình, không điều chỉnh những hợp đồng mua bán có đối tượng là hàng hóa vô hình (ví dụ như phần mềm máy tính). Ngay cả đối vổi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Incoterms, Incoterms cũng không điều chỉnh mọi vấn đề, ngược lại, nó chỉ điều chỉnh một số nghĩa vụ được xác định cụ thể đối với các bên (ví dụ như nghĩa vụ của người bán là phải đặt hàng hóa dưới quyển định đoạt của người mua hoặc giao hàng cho người chuyên chở hoặc giao hàng tới địa điểm quy định và cùng với các nghĩa vụ này là sự phân chia rủi ro giữa các bên trong từng điều kiện cụ thể) và quy định về các nghĩa vụ thông quan cho hàng hóa XNK.

-        Incoterms không điều chỉnh những vấn đề về chuyển giao quyền sở hữu và các quyền tài sản khác giữa các bên, không điều chỉnh những vấn đề về vi phạm hợp đồng, về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Những vấn đề này do các bên quy định trong hợp đồng hoặc do luật áp dụng cho hợp đồng quy định.

Một số nhà chuyên môn gọi các Incoterms là “các điều kiện về... giá” vì rằng chúng cho phép chỉ rõ, không mập mờ, các nghĩa vụ bao hàm trong giá hàng được đưa ra.

Ví dụ, bán hàng theo điều kiện FOB Incoterms năm 2010 quy định chi phí vận tải và bảo hiểm do người mua chịu, người bán phải giao hàng lên tàu do người mua chỉ định; rủi ro đối với hàng được chuyển từ người bán sang người mua khi hàng được giao lên tàu tại cảng bốc hàng quy định.

Incoterms tạo ra sự giúp đỡ quý báu trong đàm phán và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với điều kiện các bên phải:

-        Ghi rõ là hiểu theo Incoterms năm nào. Ví dụ, trong hợp đồng cần ghi rõ: “FOB (hay CIF/C&F v.v...) Incoterms năm 2010”. Nhất thiết phải ghi chữ INCOTERMS năm 2000 (hoặc năm 2010): bao hàm ý là doanh nghiệp chiểu theo bản Incoterrms ấn hành vào năm 2000 (hoặc năm 2010) của Phòng Thương mại Quốc tế vì cho đến nay đã có tối 8 phiên bản Incoterms và chúng có nội dung không hoàn toàn giông nhau.

Nếu sơ suất không ghi Incoterms, chỉ ghi FOB có thể hiểu là chiểu theo một cách định nghĩa FOB khác đi và các bên sẽ rơi vào rủi ro.

Tại một số nước (đặc biệt là Hoa Kỳ) luật lệ nhiều địa phương định nghĩa điều kiện bán hàng FOB rất khác nhau. Do vậy, nếu trong hợp đồng ký với một hãng Hoa Kỳ chỉ ghi chung chung là giao hàng theo điều kiện “FOB...” có nhiều rủi ro là hai bên sẽ phải tranh cãi trong quá trình thực hiện: “đó là FOB Hoa Kỳ hay FOB Incoterms”? bởi vì theo điều kiện FOB Hoa Kỳ nghĩa vụ của người bán sẽ nặng hơn.

Song cũng cần lưu ý là, khi áp dụng Incoterms cần nắm vững các nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, Incoterms không có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Nó chỉ có giá trị bổ sung cho hợp đồng, do vậy, nó chỉ được áp dụng khi không có quy định cụ thể của hợp đồng về một vấn đề nào đó.

Thứ hai, phải ghi rõ là hiểu theo Incoterms nào. Ví dụ, giao hàng theo điều kiện DAP (giao tại nơi đến), Incoterms 2010 hoặc giao hàng theo điều kiện DDU (giao hàng tại nơi đến quy định chưa nộp thuế), Incoterms năm 2000, v.v...

Thứ ba, Incoterms chỉ giải quyết bốn vấn đề:

-        Chuyển rủi ro vào thời điểm nào?

-        Ai lo liệu các chứng từ hải quan nếu là mua bán quốc tế?

-        Ai phải trả chi phí bảo hiểm?

-        Ai chịu trách nhiệm về chi phí vận tải?

Điều này có nghĩa là, ngoài các vấn đề nêu trên, tất cả các vấn đề khác liên quan đến quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên - người bán và người mua - phải được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Tóm lại, khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, các bên cần phải chứng minh nội dung của tập quán đó. Bởi vậy, sẽ là thuận lợi nếu người bán và người mua có được thông tin đầy đủ về tập quán thương mại khi họ bước vào đàm phán ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tập quán quốc tế hoặc thông tin về các tập quán quốc tế có thể tìm ở sách báo, tài liệu hoặc ở các văn bản của các Phòng Thương mại, ở các cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam nằm ở nưốc ngoài...

Ngoài ba nguồn luật nói trên, thực tiễn buôn bán của các nước phương Tây còn thừa nhận cả án lệ (tiền lệ xét xử) và các bản điều kiện chung, các hợp đồng mẫu chuyên nghiệp làm nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.