1. Khái niệm cơ quan quản lý cạnh tranh.

Hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể nào về cơ quan quản lý cạnh tranh, mỗi nơi trên thế giới cơ quan quản lý cạnh tranh lại có một tên gọi riêng, địa vị pháp lý của các cơ quan này cũng không giống nhau. Tuy nhiên có thể được hiểu là:

Cơ quan quản lý cạnh tranh là một cơ quan, hoặc hệ thống các cơ quan nằm trọng bộ máy quản lí của nhà nước của mỗi quốc gia. Cơ quan cạnh tranh có thể trực thuộc Quốc hội, Chính phủ, có nhiệm vụ thực thi đảm bảo thực thi luật cạnh tranh thông qua cơ chế quản lý, giám sát và đưa ra các phán quyết đối với các chủ thể tham gia hoạt động thương mại trên thị trường.

 

2. Vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh.

Cơ quan quản lý cạnh tranh đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo mọi hoạt động kinh tế được diễn ra trong môi trường bình đẳng, đúng pháp luật.

Đối với nền kinh tế: Cơ quan quản lý cạnh tranh đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, tạo ra nền tảng cơ bản cho quá trình cạnh tranh, duy trì và thúc đẩy quá trình cạnh tranh tự do, hiệu quả; giúp điều tiết quá trình cạnh tranh, góp phần giúp các doanh nghiệp cạnh tranh một cách lành mạnh, đúng hướng. Cơ quan cạnh tranh cũng hạn chế tác động tiêu cực nảy sinh do sự điều hành quá mức, lạm dụng thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước vào thị trường. Cơ quan quản lý cạnh tranh khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp, hợp tác bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật chung. Điều tiết quá trình cạnh tranh, hướng các doanh nghiệp cạnh tranh một cách lành mạnh, đúng hướng.

Đối với xã hội: Hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh thông qua cơ chế giám sát, phát hiện xử lý hay đưa ra các phán quyết sẽ là một áp lực đến các doanh nghiệp yếu kém, từ đó có sự dịch chuyển nguồn lực xã hội vào sản xuất hàng hóa, dịch vụ còn thiếu.

Đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ mà kết quả tiêu thụ là khâu quyết định trong doanh nghiệp có nên sản xuất nữa hay không. Cơ quan cạnh tranh ra đời tạo động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy cho các doanh nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp này. Người tiêu dùng có cơ hội nhận được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giá thành phù hợp với khả năng của họ

 

3. Mô hình cơ quan cạnh tranh của Hoa Kỳ.

Hệ thống cơ quan cạnh tranh ở Hoa Kỳ có hai cơ quan là Ủy ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ (US FTC) và Cục Cạnh tranh thuộc Bộ tư pháp (US DOJ).

Uỷ ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ (US FTC)

Cơ cấu của US FTC bao gồm một nhóm ủy viên gồm 05 người do Tổng thống đề cử và do Thượng viện thông qua, 1 trong số đó được Tổng Thống chọn là chủ tịch, tối đa 3 thành viên được phép cùng một Đảng và mỗi thành viên có nhiệm kỳ 7 năm.

US FTC chịu trách nhiệm quản lý 3 cơ quan chính: Cơ quan Bảo vệ người tiêu dùng, Cơ quan Cạnh tranh và Cơ quan kinh tế. Ủy ban thương mại liên bang Hoa Kỳ có các phòng ban chuyên trách các vấn đề khác như văn phòng tư vấn chung, văn phòng hợp tác quốc tế…và các văn phòng đại diện ở 7 bang khác của Mỹ. USFTC có nhiệm vụ điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và áp dụng chế tài đối với các hành vi vi phạm Luật cạnh tranh, đồng thời đảm trách thi hành Luật Bảo về quyền lợi của người tiêu dùng.

Chức năng của US FTC là ngăn chặn hành vi kinh doanh phản cạnh tranh hoặc gây bất lợi cho người tiêu dùng; tăng cường quyền lựa chọn của người tiêu dùng và nhận thức của công chúng về cạnh tranh; hoàn thành nhiệm vụ trên nhưng không gây ra bất kì rào cản hay gánh nặng pháp lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Cục Cạnh tranh thuộc Bộ tư pháp (US DOJ)

Cục cạnh tranh được giám sát bởi Thứ trưởng Bộ tư pháp Hoa Kỳ do Tổng thống đề cử và Thượng viện thông qua. Thứ trưởng được hỗ trợ bởi 5 trợ lý, có thể là cán bộ chuyên tu. Mỗi bộ phận mà văn phòng thông báo cho 1 trợ lý nhất định. Các giám đốc, phó giám đốc điều hành, giám đốc bộ phận thực thi Luật Hình sự và bộ phận thực thi kinh tế có thẩm quyền giám sát đối với lĩnh vực của họ và là cán bộ chuyên tu. 

Chức năng của US DOJ là phụ trách đẩy mạnh cạnh tranh kinh tế thông qua việc thi hành và hướng dẫn thi hành Luật chống độc quyền và các quy định liên quan.

 

4. Mô hình cạnh tranh của Úc

Hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh của Úc bao gồm Ủy ban cạnh tranh (ACCC), Tòa cạnh tranh Úc (Australian Competition Tribunal) và Hội đồng cạnh tranh quốc gia (National Competition Council).

Ủy ban cạnh tranh (ACCC)

Ủy ban cạnh tranh là một cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ. Cơ cấu tổ chức bao gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch, các Cao ủy. Việc bổ nhiệm các vị trí trong ACCC có sự tham gia của Chính phủ Liên bang, bang và lãnh thổ. Dưới Ủy ban là các bộ phận phụ trách các mảng lĩnh vực như: bộ phận quản trị doanh nghiệp, bộ phận thực thi Luật cạnh tranh; bộ phận về người tiêu dùng, doanh nghiệp nhỏ và an toàn sản phẩm…

ACCC có chức năng thúc đẩy cạnh tranh và thương mại, tạo công bằng trên thị trường nhằm đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, doanh nghiệp và cộng đồng. Đây là cơ quan duy nhất của Úc giải quyết các vấn đề liên quan đến cạnh tranh và chịu trách nhiệm thực thi Luật Thương mại và Luật ứng dụng của bang và lãnh thổ.

Tòa cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh quốc gia

Tòa cạnh tranh có chức năng xem xét kháng nghị các quyết định của ủy ban cạnh tranh liên quan đến việc cho phép hoặc thông báo và quy định tiếp cận nguồn nhân lực. Xem xét các vụ tập trung kinh tế diễn ra ngoài nước Úc nhưng có ảnh ảnh hưởng hạn chế cạnh tranh tại Úc và nếu có thì liệu những lợi ích đối kháng lại với công chúng cần bỏ qua không.

Hội đồng cạnh tranh quốc gia được thành lập theo Luật cải cách chính sách cạnh tranh năm 1995, chịu trách nhiệm tư vấn về những vấn đề thuộc Luật cạnh tranh.

 

5. Mô hình cạnh tranh của Nhật Bản.

Uỷ ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về cạnh tranh. JFTC là một cơ quan quản lý cạnh tranh có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cũng như khả năng thực thi chính sách, pháp luật cạnh tranh hiệu quả nhất trên thế giới.

JFTC được cơ cấu dưới dạng Ủy ban hành chính, có 5 thành viên, 1 chủ tịch và 4 ủy viên và do Thủ tướng trực tiếp bổ nhiệm, trong số các chuyên gia về pháp luật về kinh tếm trên cơ sở sự đồng thuận của Thượng viện và Hạ viện, riêng JFTC do Nhật hoàng thông qua. Nhiệm kỳ của các thành viên là 5 năm, các thành viên không bị bãi nhiệm trừ trường hợp do pháp luật quy định.

JFTC hoạt động độc lập trong quá trình thực hiện nghĩa vụ như một ủy ban hành chính độc lập, không chịu bất kỳ sự chỉ đạo hay kiểm soát của các cơ quan khác.

Chức năng của JFTC là nó có quyền tương đương quyền lập pháp trong việc ban hành các quy định nội bộ, có quyền tương đương quyền tư pháp trong việc tiến hành các phiên tòa và quyền hạn của một cơ quan hành chính.

Nhận xét về mô hình cơ quan cạnh tranh của các nước trên thế giới

Qua việc tìm hiểu mô hình cạnh tranh của một số quốc gia trên thế giới, nhìn chung các cơ quan quản lý cạnh tranh các nước đều mang tính lưỡng tính, vừa mang tính chất của cơ quan hành chính vừa mang tính chất của một cơ quan tư pháp. Cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc hệ thống cơ quan nhà nước để thực thi chính sách pháp luật về cạnh tranh do đó nó là cơ quan hành pháp. Tuy nhiên hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh mang tính tư pháp khi các cơ quan này có quyền xét xử, ra quyết định áp dụng các chế tài đối với các bên vi phạm pháp luật.

Cơ quan quản lý cạnh tranh ở mô hình nào cũng có tính độc lập, không chịu sự tác động, chi phối can thiệp của bất kì cơ quan nào, chỉ hoạt động theo nhiệm vụ, quyền hạn pháp luật quy định.

 

6. Thực trạng ở Việt Nam.

Mô hình cơ quan cạnh tranh của nước ta bao gồm hai cơ quan đó là Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh.

Cục quản lý cạnh tranh:

Cục quản lý cạnh tranh thộc Bộ Công Thương, vi trí, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan này được quy định cụ thể trong Quyết định số 848/QĐ-BCT ban hành ngày 05/02/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cục quản lý cạnh tranh.

Cục quản lý canh tranh ngày càng được kiện toàn về tổ chức, nguồn nhân lực không ngưng gia tăng qua các năm (Năm 2014 cục gồm 104 cán bộ, công chức viên chức). Từ năm 2015 tới nay, thực hiện chủ trương tinh giản biên chế của Chính phủ nên số lượng cán bộ, công chức, viên chức của Cục đã giảm.

Hội đồng cạnh tranh

Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập, có chức năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh được thành lập theo Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh.

Tháng 1/2015, với việc ban hành Nghị định số 07/2015/NĐ-CP, Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh đã được chuyển đổi trở thành Văn phòng Hội đồng cạnh tranh, tuy nhiên vẫn giữ nguyên mô hình là một đơn vị trực thuộc Bộ Công Thương.

Thực trạng về pháp luật cạnh tranh từ Luật cạnh tranh 2018 đến nay: góc nhìn từ cơ quan quản lý.

Luật Cạnh tranh 2018 ra đời được xây dựn trên cơ sở nhấn mạnh mục tiêu tăng cường hiệu quả thực thi, có những điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng như:

Mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; 

Sửa đổi và bổ sung hành vi cấm đối với cơ quan nhà nước; 

Hoàn thiện quy định kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và bổ sung quy định về chính sách khoan hồng nhằm tăng cường hiệu quả thực thi; 

Bổ sung tiêu chí xác định sức mạnh thị trường đáng kể làm cơ sở xác định doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền; 

Thay đổi căn bản cách tiếp cận để hoàn thiện các quy định kiểm soát tập trung kinh tế;

Hoàn thiện quy định kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh; 

Tổ chức lại cơ quan cạnh tranh để tăng cường hiệu quả thực thi; và 

Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục trong tố tụng cạnh tranh.

Sau 2 năm tổ chức thực thi Luật cạnh tranh 2018, những kết quả đạt được qua góc nhìn của cơ quan quản lý như sau:

Về hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn, thực thi Luật Cạnh tranh: Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành 02 Nghị định hướng dẫn thực thi Luật Cạnh tranh 2018: Nghị định số 75/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị định số 35/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh.

Thời gian qua, Bộ Công Thương đã báo cáo cấp có thẩm quyền trong việc hoàn thiện mô hình tổ chức của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia hướng tới xây dựng một cơ quan cạnh tranh đảm bảo vị thế độc lập, hiệu quả. Trên cơ sở đó, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

Về công tác tuyên truyền phổ biến và hướng dẫn được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức khác nhau như qua hội thảo, tài liệu in, sách hướng dẫn…

Tăng cường triển khai kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trên thị trường. Từ năm 2019 đến nay đã tiếp nhận và xử lý 125 hồ sơ thông báo tập trung kinh tế theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018 với số lượng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là 258 doanh nghiệp, trong đó, số lượng doanh nghiệp nước ngoài là 131(chiếm 51%) và số lượng doanh nghiệp Việt Nam là 127 (chiếm 49%). 

Công tác điều tra xử lý lý hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh được tăng cường đảm bảo cho thị trường kinh doanh công bằng

Luật Minh Khuê (tổng hợp)