1. Nguyên tắc đối xử tối hệ quốc (Most favouted nation treatment - Mfn).
Năm 1933, Hội Quốc Liên đã xuất bản một văn bản mẫu với khoảng 300 từ về nguyên tắc MFN. Tuy nhiên, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, nguyên tắc MFN đã không nhận được sự ủng hộ rộng rãi. Nguyên tắc này gần như đã biến mất vì cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhưng sau chiến tranh nguyên tắc lại hồi sinh mạnh mẽ và cùng với sự phát triển của hệ thống thương mại đa phương, với sự ra đời của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947), MFN đã trở thành nền tảng của thương mại quốc tế
Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý của đãi ngộ tối huệ quốc thường là điều khoản quy định về MFN. Căn cứ vào điều khoản này mà bên ký kết cùng một bên hoặc nhiều bên ký kết khác phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau, dành cho nhau những đãi ngộ tối huệ quốc trong phạm vi áp dụng do WTO quy định.
Có 2 phương pháp để đạt được sự đãi ngộ MFN từ một hay nhiều nước khác:
+ Kí kết các hiệp định thương mại và trong hiệp định thương mại đó có các điều khoản quy định về MFN.
+ Quy định của các tố chức quốc tế mà các quốc gia thành viên của tổ chức phải tuân thủ.
Thông thường quy chế tối huệ quốc mang tính song phương. Tuy nhiên quy chế này cũng có thể áp dụng đơn phương nhằm đáp ứng tình trạng kinh tế đặc biệt của một quốc gia hay do áp lực chính trị.
Cách áp dụng nguyên tắc Tối huệ quốc
Áp dụng MFN ngay lập tức và vô điều kiện(áp dụng tối huệ quốc kiểu châu Âu): Các nước dành cho nhau MFN (ký kết các hiệp định ưu đãi và miễn trừ thuế cho bất kì một quốc gia thứ ba nào) mà không kèm theo bất kì điều kiện ràng buộc nào.
Áp dụng MFN có điều kiện (áp dụng tối huệ quốc kiểu châu Mỹ): quốc gia được hưởng MFN phải chấp nhận những điều kiện về kinh tế hoặc chính trị mà quốc gia cho hưởng đòi hỏi.
+ Năm 1979, Trung Quốc ký hiệp định thương mại với Mỹ quy định 2 bên sẽ dành cho nhau những đãi ngộ tối huệ quốc về lĩnh vực xuất nhập khẩu…Nhưng hàng năm quốc hội Mỹ vẫn phải xét và phê chuẩn cho Trung Quốc được hưởng những ưu đãi tối huệ quốc từ Mỹ. Đây chính là loại ưu đãi tối huệ quốc có điều kiện.
Ngoại lệ
Một số ngoại lệ được nêu rõ trong những bản dự thảo ban đầu của các Điều khoản MFN
Về chế độ ưu đãi đặc biệt
Chế độ ưu đãi đặc biệt về thuế quan là các đặc lợi về thuế quan mang tính phân biệt đối xử chỉ vì áp dụng riêng giữa một số nước với nhau hoặc trong cùng một khu vực nhất định như chế độ ưu đãu cỉa Khối thịnh vượng chung, chế độ ưu đãi của Khối liên hiệp Pháp, ưu đãi giữa Mỹ và Philippin…Mục tiêu của GATT 1947 là tự do hóa thương mại và chống phân biệt đối xử giữa các nước thành viên nhưng khi ra đời GATT 1947 không thể xóa bỏ ngay lập tức và toàn bộ các ưu đãi thuế quan này, cho nên nó đã buôc phải chấp nhận sự tồn tại của chế độ ưu đãi đặc biệt này như một ngoại lệ nhưng với các điều kiện sau:
Thứ nhất, các ưu đãi này chỉ giới hạn trong thuế quan đối với hàng nhập khẩu và không cho phép ưu đãi đặc biệt về thuế xuất khẩu, hạn chế xuất nhập khẩu và các hạng mục khác;
Thứ hai, ưu đãi đặc biệt này chỉ giới hạn giữa một số nước thành viên đã được chấp nhập và không được phép thiết lập các ưu đãi mới sau khi GATT 1947 ra đời;
Thứ ba, là không cho phép tăng sự chênh lệch giữa huế suất ưu đãi đặc biệt đã có khi thành lập GATT 1947 với thuế suất tối huệ quốc.
Hội nhập kinh tế khu vực
Theo quy định tại Điều 24 GATT 1994 thì nguyên tắc đối xử tối huệ quốc sẽ không áp dụng đối với khu vực mậu dịch tự do hoặc đồng minh thuế quan. Nói cách khác là hội nhập kinh tế khu vực cụ thể là đồng minh thuế quan và khu vực mậu dịch tự do được coi là ngoại lệ của nguyên tắc đối xử tối huệ quốc. Đồng minh thuế quan nghĩa là về mặt nguyên tắc các nước thành viên của nó không thiết lập các rào cẩn thương mại đối với thương mại của nhau, còn đối với thương mại ngoài khu vực thì áp dụng hệ thống thuế quan chung cũng như các quy định chung về thương mại. Khu vực mậu dịch tự do nghĩa là về nguyên tắc các nước thành viên của khu vực không thiết lập rào cản đối với thương mại của nhau nhưng mỗi nước thành viên duy trì hệ thống thuế quan và các quy định thương mại của riêng mình đối với thương mại của các nước ngoài khu vực (khoản 8 Điều 24). Mặc dù khu vực mậu dịch tự do và đồng minh thuế quan giũa các nước thành viên sẽ có thể thức đẩy tự do hóa thương mại, tạo ra hiệu quả thương mại giữa các nước trong khối nhưng đây vẫn chỉ là sự tự do thương mại giữa các nước trong khối, vậy nên mặt trái là tạo ra rào cản phân biệt đối xử với các nước ngoài khối.
Điều 24 của GATT công nhận các nước thuộc một thỏa thuận khu vực có thể dành cho nhau những ưu đãi lớn hơn so với ưu đãi dành cho nước thành viên WTO nằm ngoài thỏa thuận khu vực đó. Như vậy, các nước ASEAN có thể dành cho nhau không chỉ thuế suất thấp hơn mà còn có thể là những tiêu chuẩn kỹ thuật ít ngặt nghèo hơn.
Các biện pháp đặc biệt đối với các nước đang phát triển
Biện pháp này cho phép các nước đang phát triển áp dụng là hỗ trợ chính phủ đối vớ phát triển kinh tế. Được quy định tại Điều 18, theo đó các nước thành viên đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế , sẽ được phép tiến hành những hạn chế nhập khẩu cần thiết phục vụ cho phát triển kinh tế với một số điều kiện nhất định. Sau đó, Chế độ ưu đãi phổ cập cũng được chấp nhận đưa vào áp dụng trong GATT từ năm 1971 ( vì áp dụng trong lĩnh vực thuế quan nên được gọi là chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập – GSP).
Ngoài ra, khi WTO ra đời bên cạnh GSP, thì các đối xử đặc biệt và khác biệt bao gồm : hưởng một số ưu đãi; miễn thực hiện nghĩa vụ trong một thời gian nhất định và trợ giúp về kĩ thuật cũng được cụ thể hóa trong các hiệp định của WTO.
Bên cạnh những ngoại lệ trên thì GATT còn quy định một số trường hợp được phép không áp dụng nguyên tắc MFN mà không cần phải xin phép hoặc thông qua thủ tục đặc biệt nào. Các biện pháp cần thiết để bảo vệ đạo đức, trật tự công cộng, bảo vệ sinh mạng và cuộc sống của con người…( Điều 20); các biện pháp để bảo vệ anh ninh quốc gia ( Điều 21)…
2. Nguyên tắc đối xử quốc gia ( NT).
Cùng với MFN, nguyên tắc NT được đề cập trong nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo rằng những sản phẩm nước ngoài và đôi khi là nhà cung cấp những sản phẩm đó được đối xử trong thị trường nội địa không kém ưu đãi hơn các sản phẩm nội địa hay các nhà cung cấp những sản phẩm đó. Điều này nghĩa là nước nhập khẩu không được đối xử phân biệt giữa sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp nước ngoài về thuế và các khoản lệ phí trong nước cũng như về điều kiện cạnh tranh.
Trước GATT 1947, không một Hiệp ước đa phương nào có quy định về NT. Sau khi được đưa vào Điều III của GATT 1947, NT đã trở thành nguyên tắc phổ biến trong các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Theo Điều III của GATT, NT đối với hàng hoá là sự bình đẳng về cơ hội cạnh tranh.
WTO được thành lập là một bước ngoặt trong việc mở rộng phạm vi áp dụng của nguyên tắc NT. Lần đầu tiên có một điều khoản liên quan đến Đối xử quốc gia trong dịch vụ, (Điều XVII Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ-GATS), để đảm bảo cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và các dịch vụ tương ứng của họ được đối xử ngang bằng so với các nhà cung cấp dịch vụ trong nước và các dịch vụ mà họ cung cấp.
Quy tắc NT được hiểu là hàng hóa nhập khẩu,dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hóa cùng loại trong nước.
Quy chế này thể hiện sự đối xử công bằng giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hàng hóa này.
Cơ sở pháp lý
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment - NT), quy định tại Điều III Hiệp định GATT, Điều 17 GATS và Điều 3 TRIPS.
Cách thức áp dụng
- Trong lĩnh vực hàng hóa:
Đối với hàng hóa, việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung có nghĩa là hàng hóa nước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặc được đăng ký bảo vệ hợp pháp được đối xử bình đẳng như hàng hóa và trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa, các quy định về mua, bán, phân phối vận chuyển.
- Trong lĩnh vực dịch vụ:
Điều 17 GATS quy định “Mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà thành viên đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của mình”.
Theo hiệp định, Việt Nam cam kết mở cửa cho Hoa Kỳ tham gia từng bước vào kinh doanh 53 phân ngành trong số 155 phân ngành theo quy định của WTO. Tùy từng lĩnh vực, Việt Nam sẽ cho phép Hoa Kỳ lập các công ty liên doanh hoặc 100% vốn theo một lộ trình với các thời hạn khác nhau.
Về phía Hoa Kỳ, Hoa Kỳ cam kết mở cửa thị trường cho 103 phân ngành dịch vụ của Hoa Kỳ cho Việt Nam như các thành viên WTO khác.
- Trong lĩnh vực đầu tư:
Theo nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định tại điều 2 TRIMS, có 5 biện pháp đầu tư cụ thể bị cấm áp dụng: Cấm các quốc gia đặt ra biện pháp đối xử với hàng hóa nhập khẩu kém thuận lợi hơn hàng hóa trong nước, nếu làm như thế sẽ vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia:
- Yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa
- Yêu cầu cân bằng mậu dịch, quy định không được sử dụng các hạn chế số lượng đối với hàng nhập khẩu và xuất khẩu.
- Yêu cầu cân bằng mậu dịch dẫn đến hạn chế nhập khẩu.
- Hạn chế giao dịch ngoại hối dẫn đến hạn chế nhập khẩu.
- Yêu cầu tiêu thụ nội địa dẫn đến hạn chế xuất khẩu.
Các nước phải chỉnh lý các biện pháp trái với hiệp định này trong một khoảng thời gian ấn định và chỉ có một số trường hợp ngoại lệ.
Ngoại lệ
Không được tạo ra sự phân biệt đối xử phi lý giữa các nước có điều kiện như nhau hay hạn chế, ngăn cản thương mại quốc tế.
Áp dụng trong trường hợp cần thiết:
- Bảo vệ đạo đức công cộng
- Bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ con người, động vật hay thực vật
- Liên quan đến việc xuất hoặc nhập khẩu vàng và bạc
- Liên quan đến các sản phẩm sử dụng lao động của tù nhân.
- Bảo đảm sự tôn trọng pháp luật và các quy tắc không trái với các quy định về áp dụng các biện pháp hải quan, duy trì hiệu lực của chính sách độc quyền, bảo hộ bản quyền, nhãn hiệu thương mại, quyền tác giả và các biện pháp ngăn ngừa gian lận thương mại; di sản quốc gia; gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt.
Không áp dụng đối với các luât lệ, quy định hay yêu cầu quản lý về vấn đề mua sắm chính phủ mà trong đó sản phẩm được mua nhằm phục vụ mục đích sử dụng của chính phủ chứ không nhằm bán lại vì mục đích thương mại hay sử dụng để sản xuất hàng hóa nhằm bán lại vì mục đích thương mại.
Chi trả các khoản trợ cấp dành riêng cho các nhà sản xuất nội địa: Điều III GATT 1994 quy định: Nghĩa vụ NT sẽ không ngăn cản việc chi trả các khoản trợ cấp dành riêng cho các nhà sản xuất nội địa. Tuy nhiên, việc chi trả các khoản trợ cấp này chỉ đề cập tới các khoản trợ cấp trực tiếp được thanh toán chứ không đề cập đến các biện pháp khác, ví dụ như tín dụng thuế hoặc giảm thuế. Hạn ngạch về thời gian công chiếu phim ảnh nước ngoài: Điều III của GATT có một quy định đặc biệt dành cho lĩnh vực phim ảnh, theo đó, thành viên của GATT được quyền định ra hoặc duy trì các quy tắc hạn chế số lượng phim nước ngoài trình chiếu theo đúng các quy định của Điều IV tiếp theo - quy định đặc biệt về phim - điện ảnh.
- Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ:
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, mỗi bên ký kết, phù hợp với luật và các thủ tục của mình, phải dành cho những tác phẩm của những nhà sáng tạo và nghệ sĩ là công dân hoặc người thường trú của bên ký kết kia và cho các tác phẩm công bố lần đầu tại lãnh thổ của bên ký kết kia sự bảo hộ bản quyền không kém thuận lợi hơn sự bảo hộ mà bên đó dành cho công dân của chính mình.
3. Nguyên tắc mở cửa thị trường.
Là công cụ quan trọng của GATT/WTO nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóa và mở rộng thương mại.
Về mặt pháp lý, mở cửa thị trường là nghĩa vụ có tính chất ràng buộc đối với các nước thành viên, theo đó các nước thành viên cam kết và thực hiện lộ trình mở cửa thị trường cho hàng hóa ( trong thời kì GATT), dịch vụ và đầu tư nước ngoài ( thời kì WTO).
Đối với các nước muốn gia nhập WTO thì việc đưa ra cam kết về lộ trình mở cửa thị trường được coi như điều kiện tiên quyết để ra nhập WTO. Đối với các nước đã là thành viên của WTO thì các vòng đàm phán chính là nơi để các nước đàm phán về nội dung và lộ trình thực hiện các cam kết mở cửa thị trường. Mở cửa thị trường được thực hiện thông qua các cam kết về :
- Cấm áp dụng biện pháp hạn chế về số lượng
Hạn chế về số lượng là một trong các biện pháp được sử dụng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Đây là rào cản các nước xuất khẩu không thể vượt qua. Các nước xuất khẩu sẽ không thể tăng số lượng xuất khẩu vượt quá giới hạn ngạch cho dù có cố gắng cải thiện về chất lượng và giá cả sản phẩm xuất khẩu tới mức nào chăng nữa. Hơn nữa, khi nước nhập khẩu áp dụng biện pháp hạn chế số lượng thì số lượng và đối tượng hạn chế lại hoàn toàn tùy thuộc vào nước nhập khẩu và thường không minh bạch. Vì là rào cản cứng, trực tiếp đối với thương mại quốc tế như vậy nên hạn chế số lượng là biện pháp đi ngược lại mục tiêu mở rộng tự do hóa thương mại của GATT/WTO và nó bị cấp áp dụng nói chung trong GATT/WTO.
4. Nguyên tắc thương mại công bằng.
Nguyên tắc này được hiểu là thương mại quốc tế được tiến hành trong điều kiện cạnh tranh bình đẳng như nhau. Thương mại quốc tế sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu như điều kiện cạnh tranh giữa các sản phẩm của các nước thành viên bị bóp méo. Ví dụ : việc áp dụng chính sách trợ cấp xuất khẩu sẽ có thể làm cho giá của mặt hàng được hưởng trợ cấp đó thấp hơn giá hàng hóa cùng loại của nước nhập khẩu hay của nước thứ ba không được trợ cấp hoặc bán phá trên thị trường nước ngoài có thể khiến cho hàng nội địa hoặc hàng của nước thứ ba mất khả năng cạnh tranh về giá, dẫn đến thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất của nước đó. Ngoài ra, các biện pháp phi thuế quan ủa các nước như tùy tiện định giá để đánh thuế quan ở mức cao, tùy tiện đưa ra các quy định về tiêu chuẩn sản phẩm điều kiện vệ sinh dịch tễ,… sẽ tạo nên rào cản đối với hàng nhập khẩu vì vậy, GATT đã tăng cường các quy định liên quan đến áp dụng biện pháp phi thuế quan bằng một loạt các đạo luật nhằm đảm bảo các điều kiện cạnh tranh công bằng trong thương mại quốc tế.
Nội dung các đạo luật này được quy định trong vòng đàm phán Uruguay và trở thành một phần tỏng phụ lục 1A « các hiệp định đa phương về thương mại hàng hóa » của Hiệp định Marrakest thành lập WTO 1995. Phục lục này bao gồm các hiệp định :
Hiệp định về chống phá giá và thuế đối kháng ;
Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng ;
Hiệp định về các biện pháp tự vệ ;
Hiệp định về định giá hải quan ;
Hiệp định kiểm tra sản phẩm trước khi xuống tàu ;
Hiệp định về các rào cản kĩ thuật đối với thương mại ;
Hiệp định về biện pháp vệ sinh dịch tễ ;
Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu.
5. Nguyên tắc minh bạch.
Minh bạch là nguyên tắc quan trọng của WTO nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi cho tự do hóa thương mại quốc tế. Theo nguyên tắc này, các nước thành viên phải công bố sớm các biện pháp có liên quan đến hoặc tác động đến thương mại quốc tế, có nghĩa vụ thông báo nhanh chóng về luật lệ, mới thông qua, sửa đổi, các quyết định tư pháp, quyết định hành chính, chỉ đạo hành chính có liên quan đến hoặc tác động đến thương mại quốc tế cho các cơ quan giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương của WTO, có nghĩa vụ nhanh chosnh cung cấp thông tin về các biện pháp nêu trên khi được các nước thành viên khác yêu cầu.
Phần lớn các hiệp định của WTO đều có quy định về tính minh bạch. Các hiệp định đa phương về thương mại hàng hóa đều có điều khoản yêu cầu các nước thành viên phải minh bạch về các thủ tục liên quan đến thương mại hàng hóa như: thủ tục, kết quả điều tra về bán phá giá, trợ cấp chính phủ,…Bên cạnh đó, các hiệp định cũng lập ra các ủy ban chuyên môn có nhiệm vụ theo dõi việc thực thi các hiệp định này và định ra cơ chế báo cáo, theo đó các nước thành viên có nghĩa vụ thông báo cho các ủy ban trên về các biện pháp, chính sách của họ có tác động đến thương mại quốc tế.
Trong Hiệp định về thương mại dịch vụ - GATS, các nước thành viên có nghĩa vụ công bố sớm các biện pháp có liên quan đến hoặc ảnh hưởng đến Hiệp định này. Ngoài ra, còn yêu cầu các nước thông báo nhanh chóng cho Hội đồng thương mại dịch vụ các luật mới thông qua hoặc sửa đổi….( Điều 3).
Đối với lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ, nghĩa vụ chính của các nước thành viên là công bố để các nước thành viên và người có quyền lợi được biết về các luật lệ, quyết định tư pháp cuối cùng, quyết định hành chính được áp dụng chung liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ…( Điều 63 Hiệp định khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ). Ngoài ra, nguyên tắc minh bạch hóa còn được thực hiện thông qua cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên WTO.
Mục đích của cơ chế này là thúc đẩy sự tuân thủ các quy định xủa WTO, cam kết của từng nước, qua đó thúc đẩy quá trình minh bạch hóa trong việc ra quyết định và luật lệ về thương mại của các nước thành viên.