1. Hệ thống thị trường theo quan điểm của Richard Cantillon
Cantillon nhận thức nền kinh tế như một hệ thống ngăn nắp gồm những thị trường liên quan với nhau theo kiểu phải đạt đến một loại cân bằng. Cư dân trong nền kinh tế bị ràng buộc bằng sự lệ thuộc lẫn nhau, và định chế hệ thống tiến hóa qua thời gian nhằm đáp ứng “nhu cầu và sự cần thiết”. Hệ thống được duy trì bằng cách điều chỉnh vai trò tự do của các doanh nhân tư lợi - những người đang tiến hành “mọi sự trao đổi và lưu thông của Nhà nước” (Essai, trang 56). Xét giai đoạn Cantillon viết Essai, ông đánh giá rất thấp tiểu sử sơ lược của thái tử, một thực tế cho thấy ông tin chắc rằng hệ thống thị trường hoạt động tốt nhất mà không có sự can thiệp của chính phủ. Các nhà doanh nghiệp cũng như những người tham gia thị trường khác, đều ràng buộc với nhau trong tính hỗ tương, khi họ “trở thành người tiêu dùng và khách hàng trong sự tôn trọng lẫn nhau”, số lượng của họ vì thế được điều tiết bằng số lượng khách hàng, hay tổng nhu cầu, dành cho dịch vụ của họ, và quyết định của họ căn cứ vào tính không chắc chắn về tương lai.
Cấu trúc hệ thống kinh tế của Cantillon mang tính chất thứ bậc. Chủ đất đứng đầu thứ bậc kinh tế, xã hội và tiêu biểu cho sự độc lập về tài chánh, mặc dù họ lấy thu nhập từ cư dân trong nước, đến lượt cư dân này phải dựa vào những người chủ để cung cấp nguyên liệu trong sản xuất. Quyền tư hữu riêng tư được xem là chủ yếu để hệ thống thị trường hoạt động thành công. Doanh nhân thuộc thứ bậc trung bình trong hệ thống thang bậc của Cantillon, vai trò của họ mang tính sống còn và lan tỏa. Chính họ là những người phản ứng liên tục trước sự chuyển biến giá cả trong thị trường cụ thể để mang lại sự cân bằng thăm dò giữa cung cầu cụ thể.
2. Cách lý giải về giá thị trường của Cantillon
Xem kinh tế như một hệ thống các trao đổi tương hỗ, Cantillon đứa ra một trong những cách lý giải đầu tiên và rõ ràng nhất về giá thị trường. Quan niệm của ông về giá bản chất (đánh giá số lượng và chất lượng của đất đai và lao động đưa vào sản xuất) làm nền tảng cho nỗ lực ban đầu đối với giá cơ bản trên một số đánh giá về chi phí “thực”, ít ra liên quan trong chừng mực giá trị dài hạn cân bằng. Tuy nhiên khi đi đến giá “thị trường” ngắn hạn, Cantillon có vẻ sẵn sàng thừa nhận cách đánh giá chủ quan. Ông nhận xét rằng:
“Nếu nhiều sự việc thường xảy ra thực sự có giá trị bản chất thế này không được bán ra thị trường với giá trị thế kia, thì sẽ tùy thuộc vào tính khôi hài và khả năng tưởng tượng của con người dựa trên giả định” (Essai, trang 28). Lý do khác giải thích tại sao giá thị trường khác với giá bản chất là kế hoạch của nhà sản xuất và khách hàng của họ có thể không kết hợp. Thực ra, dường như không thể đạt đến sự tổng hợp hoàn hảo. Cantillon nhận thấy “không bao giờ có sự thay đổi về giá trị bản chất, khả năng không thể cân đối việc sản xuất hàng hóa và sản phẩm trong một Nhà nước đối với sự tiêu dùng của nó là nguyên nhân gây ra sự biến đổi hàng ngày, sự tăng giảm thường xuyên giá thị trường” (Essai, trang 30).
3. Mặc cả trong nền kinh tế
Tiến trình mặc cả do Cantillon mô tả phản ánh thông tin do những người tham gia thị trường xử lý và mức độ kết hợp của các kế hoạch riêng lẻ. Cantillon mô tả những kế hoạch khác nhau có khuynh hướng đưa giá cả khỏi chi phí (nghĩa là giá bản chất) như thế nào:
“Nếu nông dân trong một nước gieo nhiều lúa mì hơn bình thường, có nghĩa là nhiều hơn số lúa mì cần thiết trong tiêu dùng hàng năm, thì giá trị thực và bản chất của lúa mì sẽ tương quan với đất đai và lao động đưa vào sản xuất, nhưng cung vượt cầu, số người bán nhiều hơn người mua, lúa mì trên thị trường nhất định rớt giá thấp hơn giá phí tổn hay giá bản chất. Trái lại nông dân gieo hạt lúa mì ít hơn lượng tiêu dùng cần thiết thì số người mua nhiều hơn người bán, và giá thị trường sẽ tăng cao hơn giá bản chất”. (Essai, trang 28-30).
Người ta chỉ thay thế từ “tự nhiên” bằng từ “bản chất” để đánh giá phân tích này gần giống ra sao với phân tích của Adam Smith, nếu Cantillon không mất sớm, có lẽ ông còn đưa ra mô tả quan trọng hơn về cơ chế giá. Nhưng ông đã mất sớm, chỉ mới cung cấp giải thích dạng thô về hệ thống tín hiệu giá cả dùng để liên kết các thị trường khác nhau. Đoạn văn sau đề cập nhiều về tính tư lợi như một tác động thúc đẩy về giá tương đối như tín hiệu điều chỉnh sự sử dụng tài nguyên, và về chi phí cơ hội như cơ sở quyết định kinh tế:
“Nếu một số nông dân gieo ngũ cốc nhiều hơn thông thường trên mảnh đất của mình thì họ phải thả một sô' lượng cừu ít hơn, vì thê' có ít len và thịt để bán hơn. Do đó, sẽ có quá nhiều ngũ cốc, quá ít len đối với sự tiêu dùng của cư dân. Vì thế len sẽ đắt, điều này sẽ buộc cư dân mặc quần áo lâu hơn thông thường, và có quá nhiều ngũ cốc cùng với sự thặng dư trong năm sau., nông dân., vào năm sau sẽ quan tâm đến cho rằng sẽ bán được với giá cao nhất trên việc trồng ít ngũ cốc hơn, nhiều len hơn, vì nông dân luôn tìm cách sử dụng đất đai của mình để sản xuất những thứ này mà cho rằng sẽ bán được cao giá nhất trên thị trường. Nhưng nếu năm sau họ có quá nhiều len và quá ít ngũ cốc so với cầu, thì họ sẽ không quên thay đổi việc sử dụng đất từ năm này sang năm khác cho đến khi họ điều chỉnh sản lượng của mình nhiều hay ít hơn so với tiêu dùng của cư dân. Vì thế một nông dân điều chỉnh nhiều hay ít hơn sản lượng của họ theo nhu cầu, sẽ lên kế hoạch trồng cỏ hay phơi cỏ một phần, phần khác trồng ngũ cốc, phần khác làm len, và cứ thế, anh ta sẽ thay đổi kế hoạch cho đến khi nào chứng kiến sự thay đổi đáng kể trong nhu cầu (Essai, trang 60-62).
Bằng cách này, Cantillon chứng minh những kế hoạch không tương hợp ban đầu giữa người bán và người mua sẽ trở nên tương hợp lẫn nhau bằng những sự điều chỉnh tư lợi trước những thay đổi trong giá tương đối. Cùng loại hiện tượng tự thân biểu thị trong các thị trường yếu tố, Cantillon nói về khuynh hướng lao động tự điều chỉnh đương nhiên trước yêu cầu. Nhấn mạnh đến các tác động tự nhiên trong phân bổ lao động cho những việc làm khác nhau rất rõ ràng khi Cantillon bàn về truyền thống nuôi dạy con trai theo ngành nghề của Ông cha. Nếu công nhân trong làng nuôi dạy các con trai họ trong một ngành nghề:
“Thì người lớn thặng dư sẽ phải tìm kiếm sinh kế của mình ở nơi khác, thường là trong thành phố, nếu một số còn ở chung với bố", vì không tìm đủ công việc để làm, họ sẽ sống vô cùng cơ cực”. (Essai. trang 22).
Sự tăng giảm nhu cầu ngắn hạn nhất thời sinh ra phần thu nhập thấp hay cao hơn đối với một loại hình lao động, nhưng Cantillon hình dung một sự điều chỉnh cần bằng sau cùng. Ông quan sát rất chính xác sau khi di cư khỏi và/hay nhập cư vào:
“Số người ở lại luôn được điều chỉnh công việc làm đủ để cho họ sống, khi có sự gia tăng thường xuyên công việc, thì có thể sinh lợi, và đủ cho người khác đến chia sẻ công việc” (Essai, trang 24).
Căn cứ vào sự gia tăng nhu cầu lao động, phát biểu của Cantillon về cơ chế phân bố hầu như đều được các nhà kinh tế học Tân cổ Điển phát triển.
4. Sự cạnh tranh và tinh thần doanh nghiệp
Cantillon nhận thấy sự cạnh tranh là vấn đề khác với những gì miêu tả trong các bài học kinh tế trong những năm đầu của thời đại. Ông không nghĩ sự cạnh tranh như một bảng kê các điều kiện xác định cấu trúc thị trường cụ thể mà đúng ra chỉ là một tiến trình cạnh tranh giữa các đối thủ giành giật cùng khách hàng. Trong tiến trình cạnh tranh này, Cantillon tập trung vào vai trò và tầm quan trọng của doanh nhân. Ông xét kinh tế học theo nghĩa các giai cấp của cá nhân, mỗi giai cấp xác định bằng chức năng kinh tế chính:
“Chúng ta có thể kết luận rằng, ngoại trừ nhà vua và Người chủ Đất, tất cả Cư dân của một Nước đều phụ thuộc, có thể chia họ thành hai giai cấp, nghĩa là, Nhà doanh nghiệp và Người làm công ăn lương, Nhà doanh nghiệp làm việc lương không cố định, phải nói như thế, còn tất cả những người khác hưởng lương cố định, mặc dù chức vụ và địa vị xã hội của họ rất so le. Viên tướng cũng có lương, Cận thần có lương hưu, Người hầu cũng hưởng lương, đều thuộc về giai cấp sau. Tất cả những người khác là ông chủ doanh nghiệp, cho dù họ có đem vốn ra kinh doanh, hay là họ chỉ làm công việc của riêng họ mà không bỏ ra đồng vốn nào thì vẫn có thể xem họ là đối tượng sống bấp bênh, ngay cả Người ăn xin và Kẻ cướp cũng là những ông chủ doanh nghiệp thuộc giai cấp này”. (Essai. trang 54).
Đối với Cantillon, khi gia nhập vào giai cấp doanh nghiệp thì yêu cầu không cao và rất rõ ràng các doanh nghiệp đến rồi đi, tùy vào sự thăng trầm của thương trường. Bản chất hoạt động doanh nghiệp là chịu rủi ro. Trong trường hợp doanh nghiệp - thương gia, họ mua hàng hóa với một giá đã biết để bán lại “với số lượng nhỏ hơn hoặc lớn hơn với một giả hay thay đổi”. Vì thế, thương trường không dành cho những kẻ nhát gan hay sợ rủi ro. Cantillon nhận xét:
“Những Doanh nghiệp này không bao giờ biết dung lượng Tiêu dùng trong Thành phố của họ, thậm chí cũng không biết Khách hàng sẽ mua hàng của mình trong bao lâu, nhận thấy Đối thủ của họ đang tìm cách giành Kinh doanh của họ, tất cả điều này là nguyên nhân gây ra sự không chắc chắn trong số tất cả số Doanh nghiệp này nhiều đến mức chúng ta thấy họ thất bại trong từng ngày”. (Essay, trang 50).
Cantillon cũng có khái niệm “cân bằng tổng quát” về hệ thống thị trường hoạt động ra sao. Nghĩa là, ông thừa nhận sự tương quan giữa thị trường sản phẩm và thị trường tài nguyên. Doanh nghiệp được “phân bố'” theo cùng cơ chế phân bố lao động hay hàng hóa:
“Tất cả các Nhà doanh nghiệp này trở thành người tiêu dùng và Khách hàng của nhau, Người bán vải là khách hàng và người tiêu dùng của Thương gia bán rượu và ngược lại. Họ điều chỉnh số lượng của mình trong một nước đối với Khách hàng hay đối với thị trường. Nếu có quá nhiều Người làm mũ trong Thành phố hay trên một con phố so với số người mua mũ, thì họ sẽ có số khách hàng ít hơn, do đó sẽ đi đến phá sản, nếu có quá ít, đây là một kinh doanh có lãi, khuyến khích thêm một số Người làm mũ mới mở tiệm ở đây, vì thế Nhà doanh nghiệp thuộc mọi loại, gánh lấy mọi rủi ro, điều chỉnh số lượng trong Nước (Essai, trang 52).
Lưu ý sau cùng về thuyết tinh thần doanh nghiệp của Cantillon - không phải là vấn đề ngẫu nhiên đối với thương trường, mà đúng ra là một bộ phận không thể tách rời của thị trường. Cantillon tìm cách xây dựng một nguyên lý cơ bản:
“Mọi sự trao đổi và lưu thông của Nhà nước được xúc tiến bởi... các nhà doanh nghiệp” (Essai, trang 57).
Vì thế, đối với Cantillon, hoạt động doanh nghiệp là bản chất của sự cạnh tranh và ngược lại.
5. Tác dụng của tiền tệ đối với Giá cả và Sản xuất
Lĩnh vực thuộc thuyết tiền tệ là lĩnh vực mà tài năng của Cantillon được bộc lộ một cách hoàn hảo. Ông bắt đầu cách tiếp cận thu nhập thuyết tiền tệ: phân tích chuỗi nhân quả liên kết những thay đổi trong kho dự trữ tiền tệ với thay đổi trong chi phí kết hợp, thu nhập, việc làm và giá cả. Phân tích của ông bắt đầu với cách giải thích “ba lợi thu được” - dòng chảy thu nhập và chi phí của khu vực nông nghiệp. Nông dân nộp tô cho người chủ, thực hiện chi phí thứ nhì về trả công lao động, nuôi gia súc và mua sắm hàng hóa công nghiệp, và thu được số còn dư (“lợi thu được” thứ ba) hình thành thu nhập ròng. Trong khu vực thứ hai, chúng ta sẽ hiểu khái niệm khá thô sơ về dòng chảy thu nhập này của khu vực được Franọois Quesnay một người Pháp theo phái Trọng nông chắt lọc ra sao trong tác phẩm Tableau Économique.
Cantillon xây dựng trên khái niệm ba lợi thu được bằng cách ước tính số tiền dự trữ cần thiết để hoạt động kinh tế trơn tru. Khi làm thế ông cung cấp giải thích đầu tiên thật rõ ràng về tốc độ tiền tệ:
“Trong một nước tình trạng tiền tệ khan hiếm thường xảy ra nhiều sự đổi chác hơn trong những nước tiền tệ dồi dào, và sự lưu thông càng nhanh hơn và ít chậm chạp hơn trong những nước tiền bạc không khan hiếm như thế. Vì thế điều luôn cần thiết là phải dự tính số tiền lưu thông để tính đến sự nhanh chóng của sự lưu thông tiền tệ”. (Essai, trang 130).
Thế nhưng, sau cùng chính phân tích của Cantillon về tác dụng thay đổi trong lượng tiền dự trữ đã xác lập tên tuổi của ông. Dẫn chứng “thuyết số lượng” của John Locke, Cantillon tuyên bố: “Mọi người đồng ý sự dồi dào tiền tệ hay sự gia tăng tiền tệ trong trao đổi làm nâng giá mọi thứ. số lượng tiền tệ được mang từ Mỹ sang châu Âu trong hai thế kỷ qua chứng minh sự thật này là đúng theo kinh nghiệm., vô cùng khó khăn... [tuy nhiên], bao gồm việc biết cách nào và tỉ lệ nào việc gia tăng tiền tệ làm nâng giá cả”. (Essaì, trang 160).
Như Newton, chúng ta đã so sánh với Cantillon, Cantillon tô điểm nguyên tắc phân tích của ông bằng nghiên cứu theo thực nghiệm. Thật không may, nghiên cứu này không đến được các thế hệ sau, nhưng về cơ bản Cantillon cho rằng quan hệ giữa tiền tệ và giá cả không đơn giản và trực tiếp như những người trung thành thuyết số lượng lúc đầu thường nghĩ. Ông không gặp khó khăn nào trong việc phân biệt giữa giá tương đối và mức giá, ông lập luận chính xác rằng tác dụng của sự thay đổi tiền tệ đối với giá tương đối phụ thuộc vào nơi tiền tệ mới đi vào nền kinh tế và đầu tiên chuyển vào trong tay ai. Nếu tiền tệ gia tăng rơi vào tay người chi tiêu, thì họ sẽ nâng mức chi phí cho một số hàng hóa, đẩy giá những mặt hàng này lên cao. Vì một số mặt hàng chắc chắn có nhiều người mua hơn những mặt hàng khác:
“Theo khuynh hướng của những người nắm giữ tiền”, giá tương đối nhất định sẽ thay đổi. Thay vào đó, nếu sự gia tăng tiền tệ ban đầu rơi vào tay những người tiết kiệm họ dùng để tăng lượng ngân quỹ có thể cho vay thì lãi suất hiện hành sẽ được giảm xuống, ceteris paribus, và thành phần tổng sản lượng sẽ được thay đổi ủng hộ cho đầu tư (Essai, trang 214).
Khái niệm này cung cấp mầm mống của thuyết chu kỳ kinh doanh của một người Áo nổi tiếng tên Friedrich von Hayek phát triển sau đó vào những năm 1930 (xem Chương 20).
Cũng nên lưu ý, Cantillon từ chối không tách thuyết tiền tệ ra khỏi thuyết giá trị. Ông ủng hộ thuyết lãi suất đối với ngân quỹ cho vay, lập luận rằng:
“Tiền lãi trong một Nước được ấn định bằng số tỉ lệ giữa người cho vay và người đi vay... như giá cả hàng hóa ấn định trong những cuộc cò kè giá cả trên thị trường... bằng số tỉ lệ giữa người mua và người bán” (.Essay, trang 198).
Khi bàn về giá tương đối, Cantillon khảo sát tác động của tiền tệ mới đối với lãi suất và kết luận thêm một lần nữa rằng những khía cạnh nhu cầu cụ thể đều quan trọng:
“Nếu sự dồi dào tiền tệ trong một nước rơi vào tay những kệ cho vay thì chắc chắn sẽ làm giảm lãi suất hiện hành vì sự gia tăng số người cho vay, nhưng nếu tiền tệ rơi vào tay những người tiêu dùng thì hoàn toàn có tác dụng trái ngược và sẽ làm nâng lãi suất vì sự gia tăng số nhà doanh nghiệp tìm thấy hoạt động qua sự tiêu dùng gia tăng này và họ sẽ cần vay thêm để mở rộng xí nghiệp của mình dành cho từng loại khách hàng”. (Essai, trang 214).
Kết quả, Cantillon nhận thấy rất rõ vấn đề mà nhiều tác giả trong thế kỷ tiếp theo sau vẫn chưa nhìn thấy, nghĩa là dòng kim quý tràn vào tác động theo hai cách. Sản lượng của hầm mỏ có thể được vay - có khuynh hướng làm giảm lãi suất - hay có thể tiêu xài - trực tiếp kích thích sản xuất, gia tăng nhu cầu cho vay trong sự dự đoán tạo ra lợi nhuận, và gia tăng lãi suất mà người ta muốn trả cho những khoản vay như thế.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)