1. Những nội dung chủ yếu và ý nghĩa của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng 

Mục tiêu: được ghi nhận tại điều Điều 1 Công ước 

- Thúc đẩy, tăng cường các biện pháp phòng, chống tham nhũng có hiệu lực và hiệu quả hơn; 

- Thúc đẩy, tạo điều kiện và hỗ trợ hợp tác quốc tế và trợ giúp kỹ thuật trong phòng, chống tham nhũng, bao gồm cả việc thu hồi tài sản; 

 -  Thúc đẩy tính liêm chính, chế độ trách nhiệm và việc quản lý đúng đắn việc công và tài sản công. Ba mục đích tổng quát này chi phối toàn bộ nội dung của Công ước, trong đó nhấn mạnh bốn nội dung cốt lõi đó là: 

    +  Phòng ngừa tham nhũng; 

    +  Hình sự hóa và thực thi pháp luật về tham nhũng; 

    +  Hợp tác quốc tế về tư pháp hình sự

    + Thu hồi tài sản tham nhũng. 

Những nội dung chủ yếu

- UNCAC gồm 8 Chương và 71 Điều 

- Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng là chiến lược ưu tiên đề cập ngay tại chương II của UNCAC, liên quan đến các vấn đề: Cơ quan phòng, chống tham nhũng; Khu vực công; Quy tắc ứng xử của công chức; Mua sắm công và quản lý tài sản công; Báo cáo công khai; Truy tố xét xử; Khu vực tư; Sự tham gia của xã hội; Chống rửa tiền.

- Hình sự hóa và thực thi pháp luật được quy định tập trung trong chương III của UNCAC bao gồm các nội dung: Hình sự hóa các hành vi tham nhũng; Trách nhiệm của pháp nhân; Phong tỏa, tạm giữ, tịch thu tài sản; Bảo vệ nhân chứng, chuyên gia và nạn nhân, người tố cáo; Quyền tài phán; Bí mật ngân hàng,...

- Hợp tác quốc tế được quy định tại chương IV đề cập tới các vấn đề: Dẫn dộ, Tương trợ pháp lý; Hợp tác thực thi pháp luật; Chuyển giao vụ án hình sự và liên kết điều tra;...

- Thu hồi tài sản tham nhũng được đề cập tại chương V. Đây là mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của công ước.

- Cơ chế thực thi công ước được ghi nhận trong chương VII của UNCAC.

2. Quy định về chủ quyền quốc gia trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. 

Về vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia, Điều 4 Công ước quy định, các quốc gia thành viên thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ước theo cách thức phù hợp với các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Không điều khoản nào trong Công ước cho phép quốc gia thành viên thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia khác quyền tài phán và chức năng thuộc thẩm quyền tuyệt đối của quốc gia này theo nội luật của mình. 

Quy định kể trên của Công ước phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về tôn trọng chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Quy định trên cũng phù hợp với tinh thần và nội dung của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (2000) mà có liên quan mật thiết với Công ước về phòng, chống tham nhũng của Liên hợp quốc. 

Trong bối cảnh việc phòng, chống tham nhũng ngày càng mang tính chất toàn cầu, đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nước, việc khẳng định nguyên tắc bảo vệ chủ quyền quốc gia trong Điều 4 là cần thiết để vừa bảo đảm hoạt động này đạt hiệu quả cao, vừa ngăn ngừa những hành vi lợi dụng can thiệp vào chủ quyền của nước khác. Trong thực tế, việc khẳng định nguyên tắc này cũng là một trong những yếu tố khiến cho Công ước nhận được sự ủng hộ và tham gia nhanh chóng, rộng rãi của nhiều quốc gia trên thế giới. 

Điều 6 và Điều 36 Công ước quy định việc thành lập cơ quan (lực lượng phòng chống tham nhũng chuyên trách) nhằm thực thi, giám sát và phối hợp việc thi hành chính sách và hành động chống tham nhũng. Theo các điều này, các quốc gia thành viên cần thành lập và đảm bảo sự độc lập cần thiết cho cơ quan phòng, chống tham nhũng của nước mình, trong đó bao gồm việc cung cấp phương tiện vật chất, đội ngũ cán bộ chuyên trách cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ để họ có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. 

Quyền tài phán của các quốc gia với tội phạm tham nhũng: Việc tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng theo các quy định của UNCAC tiềm ẩn nguy cơ các điều khoản của Công ước bị lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Để loại trừ nguy cơ này, Công ước đã rất chú trọng vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia. Sau khi đề ra nguyên tắc chung về bình đẳng chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, Công ước đã dành Điều 42 để quy định chi tiết về vấn đề quyền tài phán. 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 42, các quốc gia thành viêncó quyền tài phán đối với những tội phạm được quy định theo Công ước khi:(a) Tội phạm đó được thực hiện trên lãnh thổ nước mình;(b) Tội phạm đó được thực hiện trên tầu thuyền đang treo cờ của nước mình hay máy bay được đăng ký theo luật của nước mình.Bên cạnh đó, trên cơ sở Điều 4 của Công ước, quốc gia thành viên cũng có thể quy định quyền tài phán của mình khi:

(a) Tội phạm đó được thực hiện đối với một công dân nước mình;

(b) Tội phạm đó được thực hiện bởi một công dân nước mình hay bởi một người không có quốc tịch nhưng thường trú trên lãnh thổ nước mình;

(c) Tội phạm đó là một trong những tội phạm được quy định theo khoản 1điểm b, tiết (ii) Điều 23 của Công ước (Điều khoản về hình sự hoá hành vi tẩy rửa tài sản do phạm tội mà có) và được thực hiện bên ngoài lãnh thổ nước mình nhằm mục đích thực hiện một tội phạm được quy định theo khoản 1, điểm a, tiết (i) hoặc (ii) hay điểm b, tiết (i) Điều 23 của Công ước này trong phạm vi lãnh thổ nước mình; 

(d) Tội phạm đó được thực hiện chống lại nước mình. 

3. Việc truy tố, xét xử và chế tài với các hành vi tham nhũng

 Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải hình sự hoá các hành vi quy định từ Điều 15 đến Điều 25, bao gồm:

(i) Hối lộ công chức quốc gia;

(ii) Hối lộ công chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế công;

(iii)Tham ô, biển thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản khác bởi công chức;

(iv)Lạm dụng ảnh hưởng, lạm dụng chức năng để trục lợi; 

(v) Hối lộ trong khu vực tư; 

(v)Biển thủ tài sản trong khu vực tư;

(vi)Che dấu tài sản; 

(vii) Cản trở hoạt động tư pháp. 

Ngoài ra, Công ước còn đề cập đến việc hình sự hoá các hành vi làm giàu bất hợp pháp và hành vi tẩy rửa tài sản do phạm tội mà có, tuy nhiên cho phép các quốc gia thực hiện dựa trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc gia. Truy tố, xét xử các tội phạm tham nhũng là một biện pháp xử lý tham nhũng hữu hiệu, đồng thời còn có tác dụng tích cực trong phòng ngừa tệ nạn này. Tuy nhiên, bản thân hoạt động truy tố, xét xử cũng tiềm ẩn những nguy cơ tham nhũng.Vì vậy, Điều 11 Công ước ghi nhận tầm quan trọng của việc đảm bảo sự độc lập trong hoạt động xét xử. Theo Điều này, trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, các quốc gia thành viên cần áp dụng các biện pháp tăng cường tính liêm chính và phòng ngừa cơ hội tham nhũng với cán bộ toà án, trong đó có thể bao gồm việc ban hành bộ quy tắc ứng xử cho cán bộ toà án. Những biện pháp có tác dụng tương tự cũng cần được xem xét áp dụng đối với cán bộ của cơ quan công tố. 

4. Vấn đề hợp tác giữa các quốc gia trong  phòng, chống tham nhũng.

Hợp tác quốc tế là một yêu cầu không thể thiếu để phòng, chống tham nhũng một cách hiệu quả, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa khi các hoạt động thương mại, đầu tư và dân sự hầu như không còn bị giới hạn ở trong các đường biên giới quốc gia. Chính vì vậy, UNCAC đã dành riêng một Chương IV để quy định về hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng, trong đó đề ập đến những vấn đề sau đây: 

- Dẫn độ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Công ước, việc dẫn độ được áp dụng đối với các tội phạm về tham nhũng quy định tại Công ước khi người là đối tượng của yêu cầu dẫn độ có mặt trên lãnh thổ của quốc gia được yêu cầu, với điều kiện tội phạm làm nảy sinh yêu cầu dẫn độ là tội phạm mà cả quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu đều quy định hình phạt. 

- Tương trợ pháp lý: Khoản 1 Điều 46 quy định: “Các quốc gia thành viên dành cho nhau biện pháp tương trợ pháp lý rộng rãi nhất trong điều tra, truy tố và xét xử những loại tội phạm quy định trong Công ước”. 

Dự liệu được tính chất khó khăn, phức tạp của việc điều tra các vụ việc tham nhũng có sự tham gia của pháp nhân, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia, khoản 2 Điều 46 Công ước quy định nghĩa vụ tương trợ pháp lý ở mức độ cao nhất có thể theo các đạo luật, hiệp ước, hiệp định hoặc thoả thuận có hiệu lực khi việc cung cấp tương trợ pháp lý đó liên quan đến một pháp nhân và pháp nhân đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý ở quốc gia yêu cầu, căn cứ theo Điều 26 của Công ước. 

- Hợp tác thực thi pháp luật : Theo Điều 48, các quốc gia thành viên cần hợp tác chặt chẽ với nhau, trên cơ sở tuân thủ hệ thống pháp luật và hệ thống hành pháp nước mình, để tăng cường hiệu quả của hoạt động thực thi pháp luật nhằm đấu tranh chống các tội phạm thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Các biện pháp hiệu quả bao gồm: 

(i) Thành lập các kênh thông tin giữa các cơ quan, tổ chức, sở nhiệm có thẩm quyền của các bên; 

(ii) Hợp tác với nhau trong hoạt động điều tra các loại tội phạm được quy định theo Công ước;

(iii) Trao đổi thông tin và phối hợp thực hiện các biện pháp hành chính và các biện pháp khácnhằm mục đích sớm nhận dạng được các tội phạm mà Công ước quy định...

- Chuyển giao vụ án hình sự và liên kết điều tra: Trong tình hình tham nhũng trên thế giới diễn ra ngày càng trầm trọng, ngày càng xảy ra nhiều vụ việc tham nhũng phức tạp, quy mô lớn, liên quan và thuộc quyền tài phán của nhiều quốc gia. Để giải quyết có hiệu quả các vụ việc này, các Điều 47 và Điều 49 Công ước khuyến nghị các quốc gia thành viên xem xét việc chuyển giao cho nhau các vụ án hình sự hoặc thành lập cơ quan liên kết điều tra. Việc này có thể thực hiện dựa trên các hiệp định hoặc thoả thuận song phương, đa phương đã được ký kết hoặc theo thoả thuận từng vụ việc. 

- Kỹ thuật điều tra đặc biệt : Để chống tham nhũng có hiệu quả, Điều 50 Công ước khuyến nghị các quốc gia thành viên cho phép các cơ quan chức năng sử dụng những kỹ thuật điều tra đặc biệt, ví dụ như giám sát điện tử và các hình thức giám sát khác hay hoạt động chìm để phát hiện và xử lý tội phạm tham nhũng. 

5. Các biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng.

Thu hồi mọi tài sản, phương tiện, công cụ có được hoặc có liên quan đến tội phạm tham nhũng là một mục đích quan trọng và là nguyên tắc cơ bản của Công ước. Vấn đề này được tập trung đề cập trong Chương V của UNCAC. 

Điều 51 yêu cầu các quốc gia thành viên hợp tác và cung cấp cho nhau những trợ giúp rộng rãi nhất trong việc thu hồi tài sản tham nhũng.Điều 52 đề cập đến vấn đề phòng ngừa và phát hiện việc chuyển tài sản do phạm tội mà có, theo đó, các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp cần thiếtđể xác định, nhận dạng chủ sở hữu những khoản tiền được gửi trong các tài khoản có giá trị lớn và phát hiện các giao dịch đáng ngờ về tài chính. 

Điều 53 đề cập đến các biện pháp thu hồi tài sản trực tiếp, theo đó các quốc gia thành viênphải áp dụng các biện pháp cần thiết cho phép quốc gia thành viên khác khởi kiện vụ án dân sự tại toà án để xác định quyền hay quyền sở hữu đối với tài sản có được từ việc thực hiện các tội phạm quy định theo Công ước, cũng như cho phép toà án nước mình yêu cầu người thực hiện tội phạm được quy định theo Công ước phải bồi thường cho quốc gia thành viên đã chịu thiệt hại từ tội phạm đó. Bổ sung cho Điều 53, các Điều 54,55 quy định các cơ chế thu hồi tài sản thông qua hợp tác quốc tế; Điều 56 quy định về những hình thức hợp tác đặc biệt giữa các quốc gia thành viên trong việcđiều tra, truy tố, xét xử và thông tin về tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp; Điều 57 quy định việc trả lại và định đoạt tài sản tham nhũng từ quốc gia thành viên khác; Điều 58 quy định về việc thành lập các đơn vị tình báo tài chính đểthúc đẩy cách thức và biện pháp nhằm thu hồi các tài sản tham nhũng thông qua việc nhận, phân tích, và chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền báo cáo về các giao dịch tài chính đáng ngờ. Cuối cùng, Điều 59 hối thúc các quốc gia thành viên ký kết các thoả thuận song phương hoặc đa phương nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về thu hồi tài sản tham nhũng.

Về vấn đề hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham nhũng: Các Điều 54,55 quy định các cơ chế thu hồi tài sản thông qua hợp tác quốc tế; Điều 56 quy định về những hình thức hợp tác đặc biệt giữa các quốc gia thành viên trong việcđiều tra, truy tố, xét xử và thông tin về tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp;Điều 57 quy định việc trả lại và định đoạt tài sản tham nhũng từ quốc gia thành viên khác; Điều 58 quy định về việc thành lập các đơn vị tình báo tài chính đểthúc đẩy cách thức và biện pháp nhằm thu hồi các tài sản tham nhũng thông qua việc nhận, phân tích, và chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền báo cáo về các giao dịch tài chính đáng ngờ. Cuối cùng, Điều 59 hối thúc các quốc gia thành viên ký kết các thoả thuận song phương hoặc đa phương nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về thu hồi tài sản tham nhũng. 

 
 
Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập).