Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung
- 2. Về khái niệm và nhận diện tranh chấp lao động cá nhân
- 2.1 Về khái niệm
- 2.2 Về chủ thể trong tranh chấp lao động cá nhân
- 2.3 Về nội dung trong tranh chấp lao động tập thể
- 2. Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động
- 3. Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động
- 4. Về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
- 4.1 Đối với trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
- 4.2 Đối với trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền
- 4.3 Đối với trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
- 5. Về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
- 5.1 Đối với tranh chấp lao động cá nhân
- 5.2 Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền
1. Khái quát chung
Chế định về tranh chấp lao động đã được sửa đổi, bổ sung rất nhiều điểm mới tại Bộ luật lao động 2019 (BLLĐ 2019) theo hướng bao quát hơn về nhận diện tranh chấp lao động, hợp lý và thống nhất hơn về thẩm quyền và thủ tục giải quyết.
2. Về khái niệm và nhận diện tranh chấp lao động cá nhân
2.1 Về khái niệm
Theo Điều 179 BLLĐ 2019 có quy định thì:
Điều 179. Tranh chấp lao động1. Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Các loại tranh chấp lao động bao gồm:a) Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại;b) Tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.2. Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động phát sinh trong trường hợp sau đây:a) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác;b) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động;c) Khi người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động; can thiệp, thao túng tổ chức đại diện người lao động; vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí.3. Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:a) Tranh chấp lao động phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể;b) Khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
Khái niệm tranh chấp lao động được bổ sung trước hết là tranh chấp phát sinh trong quá trình “xác lập” quan hệ lao động. Theo Bộ luật trước đây chỉ công nhận là tranh chấp phát sinh trong quan hệ lao động, tức không bao gồm trường hợp phát sinh khi hai bên chưa xác lập được một quan hệ lao động. Sự bổ sung này là hợp lý, bởi lẽ trên thực tế tồn tại rất nhiều trường hợp hai bên không thỏa thuận được hoặc không có cách hiểu giống nhau về các điều khoản đã giao kết trong hợp đồng lao động. Trường hợp này tuy chưa tồn tại quan hệ lao động giữa hai bên nhưng vẫn cần phải giải quyết để bảo vệ quyền lợi một cách nhất và từ đó giúp hai bên tiến tới xác lập được một quan hệ lao động trong tương lai.
2.2 Về chủ thể trong tranh chấp lao động cá nhân
Với việc ghi nhận tổ chức đại diện của người lao động không thuộc hệ thống Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, BLLĐ 2019 cũng tính đến trường hợp phát sinh tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động.” Ngoài ra, BLLĐ 2019 đã bổ sung thêm tranh chấp giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại. Có thể thấy điểm mới này giúp việc nhận diện tranh chấp lao động được bao quát hơn và phù hợp hơn với các quy định khác trong BLLĐ.
2.3 Về nội dung trong tranh chấp lao động tập thể
Về nội dung tranh chấp lao động tập thể cũng được bổ sung nhiều điểm mới. Việc bổ sung này nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nơi làm việc trong thực tiễn, đảm bảo phải lành mạnh và văn minh. Khoản 3 Điều 179 bổ sung trường hợp tranh chấp lao động tập thể về lợi ích phát sinh khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Như vậy, BLLĐ 2019 đã xác định không chỉ trong quá trình thương lượng mà ngay cả khi quá trình thương lượng không được thực hiện,trong khi pháp luật quy định bắt buộc phải thực hiện, cũng sẽ xảy ra tranh chấp do ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, khiến họ không có cơ hội được đàm phán về các điều kiện lao động phù hợp. Điều này đã giúp mở rộng hơn về nội dung của tranh chấp lao động tập thể, có ý nghĩa giúp ngăn ngừa các trường hợp tranh chấp trong quan hệ lao động một cách triệt để, tránh để xảy ra thiệt hại.
2. Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động
Theo Điều 180 BLLĐ 2019 có quy định thì:
Điều 180. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động1. Tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động.2. Coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật.3. Công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật.4. Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.5. Việc giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý.
Thứ nhất, tại BLLĐ 2019, số lượng nguyên tắc đã giảm xuống, do Bộ luật lao động 2019 đã bỏ đi nguyên tắc: “Việc giải quyết tranh chấp lao động trước hết phải được hai bên trực tiếp thương lượng” Việc thay đổi này là hợp lý khi thương lượng không nên là một phương thức bắt buộc “phải” được thực hiện đầu tiên do tính hiệu quả kém, thường chịu sự đơn phương áp đặt ý chí từ phía mạnh hơn – phía người sử dụng lao động và không có cơ chế bảo đảm thi hành. Thương lượng chỉ nên là một phương thức khuyến khích thực hiện để đảm bảo môi trường làm việc lành mạnh, nâng cao tính tự giác chịu trách nhiệm của các bên, mà điều này đã được khẳng định ở nguyên tắc thứ nhất và được kế thừa lại ở BLLĐ 2019: “Tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động.”
Thứ hai, BLLĐ 2019 đã bổ sung nguyên tắc cuối cùng: Việc giải quyết tranh chấp lao động còn có thể được tiến hành theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý. Cơ quan tiêu biểu có thể kể đến chính là Phòng, Sở Lao động Thương binh – Xã hội. Cơ quan này theo Khoản 3 Điều 181 là đầu mối tiếp nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp của các bên và sẽ chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết phù hợp tùy trường hợp.
Điều 181. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong giải quyết tranh chấp lao động3. Khi có yêu cầu, cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân là đầu mối tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động và có trách nhiệm phân loại, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ các bên trong giải quyết tranh chấp lao động.Trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động có trách nhiệm chuyển yêu cầu đến hòa giải viên lao động đối với trường hợp bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải lao động, chuyển đến Hội đồng trọng tài trong trường hợp yêu cầu Hội đồng trọng tài giải quyết hoặc hướng dẫn gửi đến Tòa án để giải quyết.
3. Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động
Thứ nhất, có sự thay đổi về thẩm quyền giải quyết của cả 2 loại tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. Theo quy định tại Điều 187, 191 và 195 BLLĐ 2019, Hội đồng trọng tài có thẩm quyền giải quyết cả tranh chấp lao động cá nhân, tập thể về quyền và tập thể về lợi ích, thay vì chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tập thể về lợi ích như trước đây. Bên cạnh đó, đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền, BLLĐ 2019 cũng đã loại bỏ thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Việc quy định như luật cũ một mặt vừa khiến quá trình giải quyết trở nên phức tạp, khó tiếp cận cho các bên, mặt khác cũng không đảm bảo được tính chuyên trách và chức năng chuyên môn của các cơ quan, tổ chức khi giải quyết tranh chấp lao động. Bởi lẽ “Hội đồng trọng tài lao động là chủ thể có chức năng tài phán các tranh chấp lao động nhưng chỉ có thẩm quyền hòa giải tranh chấp lao động. Trong khi đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện – người đứng đầu cơ quan quản lý hành chính nhà nước cấp huyện lại được ban hành quyết định để giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền.” BLLĐ 2019 đã khắc phục được những hạn chế này, đảm bảo tính hiệu quả và kịp thời trong quá trình giải quyết tranh chấp. Đồng thời, BLLĐ 2019 cũng nhấn mạnh được tầm quan trọng của phương pháp giải quyết bằng trọng tài – vừa linh hoạt và nhanh chóng hơn Tòa án, vừa có tính bắt buộc cao hơn hòa giải.
Thứ hai, có sự đổi mới về cơ cấu và tổ chức của Hội đồng trọng tài lao động ghi nhận tại Điều 185 BLLĐ 2019. Điều này là hợp lý bởi Hội đồng trọng tài lao động cần có một cơ chế tổ chức mới, cụ thể và chi tiết hơn để phù hợp với vai trò và tầm quan trọng tại BLLĐ 2019. Theo đó, số lượng trọng tài viên được tăng lên ít nhất 15 người. Bên cạnh đó, việc giải quyết một vụ tranh chấp lao động do Ban trọng tài lao động thực hiện gồm từ 1-3 thành viên và được thành lập trên cơ sở sự lựa chọn của hai bên tranh chấp. Điều này vừa tăng quyền tự định đoạt của các bên, vừa tăng tính vô tư, khách quan của Ban trọng tài. Trường hợp một bên muốn thay đổi thành viên trong Ban trọng tài cũng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn do còn các thành viên khác trong Hội đồng trọng tài có thể thay thế.
4. Về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
4.1 Đối với trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Một là, Khoản 1 Điều 188 BLLĐ 2019 đã bổ sung thêm một trường hợp tranh chấp không bắt buộc phải thông qua hòa giải là tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.
Điều 188. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.
Hai là, cho phép các bên được lựa chọn phương thức giải quyết tại Hội đồng trọng tài lao động. Như đã phân tích ở phần thẩm quyền, điều này giúp Hội đồng trọng tài được hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, BLLĐ hiện hành vẫn chưa có quy định cụ thể về cơ chế bảo đảm thi hành quyết định giải quyết tranh chấp tại Hội đồng trọng tài, khiến cho trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp các bên không đồng ý với quyết định này và không thực hiện. Như vậy, toàn bộ quá trình giải quyết tại Trọng tài không được coi trọng, tính hiệu quả giảm, và khi đó các bên sẽ phải tìm đến phương thức giải quyết còn lại là Tòa án gây mất thời gian, lãng phí tiền bạc.
4.2 Đối với trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền
BLLĐ 2019 đã bỏ trình tự giải quyết bởi Chủ tịch UBND cấp huyện, thay vào đó là hình thức giải quyết tại Hội đồng trọng tài lao động do các bên lựa chọn.
4.3 Đối với trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
Một là, công nhận kết quả hòa giải thành tranh chấp lao động tập thể về lợi ích có giá trị pháp lý như thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp (Khoản 2 Điều 196). Quy định mới này là phù hợp bởi “về bản chất, các cuộc đàm phán trong giai đoạn hòa giải là bước mở rộng của quá trình đàm phán trực tiếp giữa các bên với sự hỗ trợ của hòa giải viên lao động nhằm đạt được sự nhất trí chung. Do dó, kết quả hòa giải thành các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích thực chất là sản phẩm của quá trình thương lượng tập thể giữa hai bên.”
Hai là, tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công sau khi tranh chấp đã qua thủ tục hòa giải mà không bắt buộc phải qua thủ tục giải quyết tại Hội đồng trọng tài lao động (Điểm b Khoản 3 Điều 196 BLLĐ 2019).Trước đây, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bắt buộc phải thông qua thủ tục giải quyết tại Hội đồng trọng tài lao động. Tuy nhiên hiện nay, việc yêu cầu trọng tài giải quyết tranh chấp là nguyện trên cơ sở thỏa thuận của các bên, và thay vào đó pháp luật hiện hành bổ sung thêm một cách giải quyết khác là thông qua thủ tục đình công.Do mục đích của đình công theo pháp luật Việt Nam chỉ giới hạn trong việc nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, và chủ thể tổ chức lãnh đạo đình công cũng là một bên tranh chấp trong tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, nên khi hai bên không thể thương lượng, hòa giải được thì lập tức có thể tiến hành đình công.
Ba là, quy định rõ căn cứ mà Ban trọng tài lao động phải dựa vào để ban hành quyết định giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích (Khoản 3 Điều 197 BLLĐ 2019). Tuy nhiên, căn cứ này lại giống với căn cứ giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền, trong khi nguyên nhân phát sinh tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là khác nhau.Không thể dựa vào quy định của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động… để ban hành quyết định giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích vì tranh chấp này phát sinh khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn quy định. Mặt khác, thực tế trong tranh chấp này người lao động thường yêu cầu những điều kiện lao động cao hơn những gì đã thỏa ước, không chỉ tác động đến lợi ích của người lao động trong nội bộ doanh nghiệp đó mà còn “ảnh hưởng đến cả các doanh nghiệp khác cùng ngành nghề, cùng khu vực, thậm chí ảnh hưởng đến cả chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Do vậy, Ban trọng tài cần căn cứ vào nhiều yếu tố như “lẽ công bằng” và “lợi ích công” để đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích các bên và lợi ích của đất nước”.
5. Về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
5.1 Đối với tranh chấp lao động cá nhân
Bổ sung thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. (Khoản 2 Điều 190 BLLĐ 2019). Đây tiếp tục là một điểm mới sau khi luật trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân cho Hội đồng trọng tài lao động.
Bên cạnh đó, lần đầu tiên BLLĐ quy định về thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, đó là thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật trong trường hợp người yêu cầu chứng minh được (Khoản 4 Điều 190 BLLĐ 2019). Đây là sự kế thừa từ Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, tuy nhiên quy định tại Bộ luật dân sự chỉ được áp dụng khi hai bên lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Với quy định trong BLLĐ 2019, thời gian không được tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp cá nhân có thể được áp dụng trong bất cứ trường hợp giải quyết tranh chấp lao động nào.
5.2 Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền
Theo Điều 194 BLLĐ 2019, thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền được quy định theo hướng giống với tranh chấp cá nhân ( 06 tháng đối với hòa giải, 09 tháng đối với Hội đồng trọng tài lao động và 1 năm đối với Tòa án). Điều này tạo sự thống nhất giữa các điều luật và phù hợp hơn do thẩm quyền giải quyết 2 loại tranh chấp này là giống nhau.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê