Sau khi bán nhà được thì người đó đem tiền bán nhà trả lại cho tôi. Vậy trong tình huống này hợp đồng mua bán giữa 2 người kia có bị vô hiệu do giả tạo hay không?

2. Anh trai tôi có mua của một người chị họ một thửa đất. Vì là anh em họ nên họ không cần lập hợp đồng có công chứng mà chỉ làm giấy tờ viết tay có chữ ký của 2 bên mua bán. Sau đó anh tôi và chị họ có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu mảnh đất đó. Anh tôi muốn khởi kiện để đòi lại mảnh đất đã mua. Vậy anh tôi có khả năng đòi lại được mảnh đất này không?

3. Vợ chồng tôi có tạo lập được một ngôi nhà trong thời kỳ hôn nhân do cả hai vợ chồng đứng tên sở hữu. Đầu năm 2015 vợ chồng anh có xích mích mâu thuẫn với nhau. Do công việc của tôi thất bại, đồng thời kinh tế khó khăn. Người vợ đã dùng mọi thủ đoạn để dọa, gây sức ép về mặt tinh thần buộc tôi phải sang tên căn nhà là tài sản chung cho chị ta bằng hợp đồng tặng cho nhà. Vậy tôi có thể xin hủy bỏ việc trao tặng nhà nêu trên không?

Mong Luật sư tư vấn giúp tôi, cũng như các căn cứ pháp lý để tôi hiểu rõ hơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn pháp luật dân sựcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Một số thắc mắc liên quan đến dân sự.

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật dân sự 2005.

2. Nội dung tư vấn

1. Một người vay nợ của tôi số tiền 1 tỷ đồng. người đó đã ký giấy vay nợ và đồng ý bán căn nhà cho tôi trả nợ. Việc mua bán này chưa được thực hiện thì người đó lại bán căn nhà này cho một người khác với giá cao hơn (hợp đồng mua bán đã qua công chứng). Sau khi bán nhà được thì người đó đem tiền bán nhà trả lại cho tôi. Vậy trong tình huống này hợp đồng mua bán giữa 2 người kia có bị vô hiệu do giả tạo hay không?
Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì việc mua bán căn nhà với người thứ 3 đã được công chứng thì đương nhiên hợp đồng này đã hợp pháp. Hơn nữa, điều 129 BLDS quy định về hợp đồng vô hiệu do giả tạo như sau:
" Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu."
Như vậy, trong trường hợp này, sau khi bán nhà người đó đã đem tiền bán trả lại cho bạn, không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với bạn.
Do đó, hợp đồng mua bán giữa hai người kia không thể bị vô hiệu do giả tạo.
2. Anh trai tôi có mua của một người chị họ một thửa đất. Vì là anh em họ nên họ không cần lập hợp đồng có công chứng mà chỉ làm giấy tờ viết tay có chữ ký của 2 bên mua bán. Sau đó anh tôi và chị họ có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu mảnh đất đó. Anh tôi muốn khởi kiện để đòi lại mảnh đất đã mua. Vậy anh tôi có khả năng đòi lại được mảnh đất này không?
Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì hợp đồng mua bán thửa đất mới chỉ có chữ ký của hai bên mua bán mà chưa được công chứng. 
Tại Khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật."

Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này"


Theo các quy định trên, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua bán đất đai) thì bắt buộc phải công chứng tại cơ quan có thẩm quyền.
Do đó, trong trường hợp này, anh trai bạn không có quyền đòi lại mảnh đất đó, bởi hợp đồng mua bán đất nếu không được công chứng ((nếu hợp đồng được xác lập vào thời điểm sau Luật đất đai 2013 có hiệu lực) thì sẽ không có hiệu lực pháp luật.
3. Vợ chồng tôi có tạo lập được một ngôi nhà trong thời kỳ hôn nhân do cả hai vợ chồng đứng tên sở hữu. Đầu năm 2015 vợ chồng anh có xích mích mâu thuẫn với nhau. Do công việc của tôi thất bại, đồng thời kinh tế khó khăn. Người vợ đã dùng mọi thủ đoạn để dọa, gây sức ép về mặt tinh thần buộc tôi phải sang tên căn nhà là tài sản chung cho chị ta bằng hợp đồng tặng cho nhà. Vậy tôi có thể xin hủy bỏ việc trao tặng nhà nêu trên không?
Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì người vợ đã dùng mọi thủ đoạn đe dọa, gây sức ép về mặt tinh thần buộc bạn phải sang tên căn nhà là tài sản chung cho chị ta bằng hợp đồng tặng cho nhà. 
Tại điều 122 BLDS quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự như sau:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”

Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 122 của Bộ luật này."

Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào. Lừa dối, đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba trong quan hệ dân sự vi phạm nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự.

 Điều 132 quy định “ Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.”

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa:

Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

Như vậy, nếu bị đe dọa buộc phải thực hiện hợp đồng sang tên mảnh đất cho người vợ thì bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, bởi hợp đồng đã vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật Dân sự.