1. Khái quát chung

Quyền con người là giá trị chung của các dân tộc, là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại. Quyền con người luôn luôn được cộng đồng quốc tế và mỗi quốc gia coi trọng xem đó là một thành tựu của nền văn minh và thước đo của sự tiến bộ xã hội. Vì vậy, nghiên cứu về quyền con người và bảo đảm quyền con người luôn luôn là một tiêu điểm thu hút sự quan tâm của các ngành khoa học luật, đặc biệt là khoa học luật TTHS.
Theo quan niệm chung “Bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”. Ở góc độ ngôn ngữ, bảo đảm có nghĩa là công cụ, điều kiện hay những hoạt động cần thiết có tính bổ sung, bổ trợ, giữ gìn cho một vật, một hiện tượng hay một việc làm gì đấy để đạt được kết quả mong đợi. Quyền con người không chỉ được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận mà điều quan trọng là nhà nước phải đảm bảo cho quyền con người được thực hiện trên thực tế nếu không thì việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong pháp luật mãi mãi chỉ là hình thức. Bảo đảm quyền con người được hiểu là một hệ thống tiền đề, điều kiện, công cụ xã hội kinh tế, chính trị, đạo đức, tổ chức, pháp lý nhằm tạo cho cá nhân những điều kiện bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các quyền tự do của mình20. Về bản chất, bảo đảm quyền con người là hệ thống các điều kiện để cho các lợi ích của con người được đáp ứng một cách hiện thực. Chức năng chính của bảo đảm quyền con người là việc nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình để cho quyền con người được thực hiện trong thực tế. Bảo đảm quyền con người có nhiều loại như bảo đảm kinh tế, bảo đảm chính trị, bảo đảm xã hội, bảo đảm pháp lý.
Bảo đảm chính trị có vai trò quan trọng trong bảo đảm các quyền và tự do cơ bản. Con người sống trong mỗi quốc gia dân tộc, vì thế quyền con người chỉ được bảo đảm thực hiện khi dân tộc đó được sống trong độc lập, tự do, không bị áp bức, nô dịch, có chế độ chính trị xã hội tiến bộ, dân chủ và ổn định. Thể chế chính trị nào đề cao con người nhất và coi con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội thì trong thể chế đó cá nhân được bảo đảm quyền con người của mình.
Bảo đảm xã hội là những điều kiện cần thiết để bảo đảm cuộc sống ấm no, hạnh phúc và phát triển tự do của con người. Các bảo đảm xã hội thể hiện qua mức độ trưởng thành công dân, mức độ bảo đảm vật chất của xã hội nơi mà các cá nhân sinh sống, mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội.
Bảo đảm về kinh tế hay bảo đảm vật chất tạo ra các điều kiện khách quan để cá nhân có thể thực hiện quyền con người của mình. Kinh tế càng phát triển sẽ tạo ra cơ sở vật chất bảo đảm quyền con người ngày một tốt hơn.
Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền con người chính là đảm bảo thực hiện quyền con người bằng pháp luật, trên phương diện pháp luật. Theo TS. Nguyễn Văn Mạnh, bảo đảm pháp lý thực hiện quyền con người là hệ thống các quy định trong hệ thống pháp luật nhằm cụ thể hóa, bảo đảm thực hiện quyền con người và cơ chế bảo đảm thực hiện các quy định đó trong thực tiễn đời sống. Bảo đảm pháp lý đóng vai trò trực tiếp chi phối tính hiện thực của quyền con người. Các bảo đảm pháp lý đối với quyền con người được biểu hiện đa dạng và phức tạp dưới khá nhiều hình thức và phương tiện khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tương tác và chi phối lẫn nhau.
TTHS là một lĩnh vực mà ở đó luôn tồn tại một xung đột giữa hai lợi ích đều cần được bảo vệ là lợi ích chung của nhà nước, của xã hội và quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân - chủ thể tham gia vào hoạt động TTHS. Giá trị xã hội của hai nhóm lợi ích này là như nhau. Vì vậy, TTHS phải cân bằng giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích công cộng. TTHS của quốc gia nào, dù theo mô hình TTHS thiên về tranh tụng hay mô hình TTHS thiên về thẩm vấn, đều coi vấn đề bảo đảm quyền con người trong quy trình giải quyết VAHS là một vấn đề trọng tâm, cơ bản. Mức độ bảo đảm quyền con người trong TTHS thể hiện tính dân chủ, văn minh của quốc gia đó. Bảo đảm quyền con người trong TTHS là một dạng bảo đảm pháp lý về quyền và tự do cá nhân, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào hoạt động TTHS. Những bảo đảm này là cần thiết, khách quan để kẻ tội phạm không tránh khỏi hình phạt công minh và người vô tội không bị oan, các chủ thể khác khi tham gia vào TTHS được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong giai đoạn điều tra, việc cơ quan có thẩm quyền thường xuyên áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp thu thập chứng cứ mang tính cưỡng chế tiềm ẩn nguy cơ xâm hại đến quyền con người của người tham gia tố tụng, đặc biệt là bị can. Do đó bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS luôn là một vấn đề quan trọng, chiếm sự quan tâm đặc biệt trong bất kỳ hệ thống tố tụng nào. Nghiên cứu về bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS có nhiều cách tiếp cận khác nhau, luận án này tiếp cận và nghiên cứu bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS dưới góc độ là một hoạt động. Bảo đảm quyền con người bị can trong giai đoạn điều tra VAHS mang những đặc trưng về chủ thể bảo đảm, chủ thể được bảo đảm, phạm vi bảo đảm, đối tượng bảo đảm, nội dung bảo đảm, mục đích bảo đảm. Làm rõ các dấu hiệu đặc trưng trên sẽ giúp hình thành khái niệm bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra VAHS một cách khoa học.

2. Chủ thể bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Chủ thể bảo đảm quyền con người nói chung là Nhà nước. Trong mối quan hệ của nhà nước và cá nhân, đặc biệt là công dân thì Nhà nước là tổ chức công quyền thực hiện việc quản lý cá nhân bằng pháp luật, bảo đảm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân được thực hiện và không bị xâm hại24. Nhà nước vừa có quyền vừa có nghĩa vụ đối với cá nhân. Nhà nước phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ nghiêm chỉnh, thống nhất các quy định pháp luật mà mình đã ban hành, bảo đảm các quyền của cá nhân được thực thi và có cơ chế bảo vệ khi các quyền này bị xâm hại. Nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người được khẳng định và nhấn mạnh trong các văn bản pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn nhân quyền thế giới của Liên hợp quốc năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966. Đó là nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền con người. Thực hiện nghĩa vụ trên, trước hết, Nhà nước ghi nhận các quyền con người trong các quy định pháp luật. Các cơ quan lập pháp như Nghị viện, Quốc hội xây dựng pháp luật, ghi nhận trong pháp luật các quyền con người cơ bản. Tiếp đó, Nhà nước tổ chức thực hiện các quy định trên, tạo điều kiện và hỗ trợ công dân hưởng thụ đầy đủ các quyền con người. Trong TTHS, cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền THTT là những chủ thể chính thực thi các quy định pháp luật TTHS, tạo điều kiện để người tham gia tố tụng được hưởng thụ các quyền con người cơ bản. Do đó, chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền con người của bị can là các cơ quan lập pháp, cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền THTT tham gia giai đoạn điều tra. Tùy theo mô hình và hình thức tố tụng cũng như sự phân định chức năng tư pháp mà các quốc gia giao thẩm quyền điều tra cho cơ quan công tố, cơ quan cảnh sát, cơ quan có thẩm quyền điều tra thuộc các bộ, ban ngành khác (bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, các CQĐT thuộc bộ...). Cơ quan có thẩm quyền điều tra như cảnh sát, CQĐT, cơ quan khác có thẩm quyền điều tra có thể hoạt động một cách độc lập hoặc hoạt động dưới sự dẫn dắt, chỉ đạo của công tố viên hoặc KSV. Trong giai đoạn điều tra, các cơ quan có thẩm quyền điều tra được phép tiến hành các hoạt động mang tính chất cưỡng chế để làm rõ tội phạm và người phạm tội. Các hoạt động này ít nhiều có khả năng xâm phạm đến các quyền con người của bị can. Vì vậy, trong khi thực hiện các quyền hạn và nhiệm vụ tố tụng của mình, cơ quan có thẩm quyền điều tra phải tôn trọng quyền con người của bị can, tạo điều kiện bị can thực thi quyền con người của mình. Bên cạnh đó, một trong những chủ thể quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm quyền con người của bị can là VKS hay viện công tố. Dù ở mô hình tố tụng nào (thẩm vấn, tranh tụng hay đan xen giữa thẩm vấn và tranh tụng, còn gọi là TTHS kết hợp) dù tổ chức ra cơ quan công tố với tên gọi là VKS hay viện công tố thì chức năng cơ bản của VKS (viện công tố) là nhân danh nhà nước thực hiện quyền công tố, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, góp phần giảm thiểu sự vi phạm của các cơ quan tư pháp hình sự trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Trong giai đoạn điều tra, VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, một mặt VKS chịu trách nhiệm buộc tội bị can, mặt khác VKS giám sát hoạt động của CQĐT trong giai đoạn này, bảo đảm không có vi phạm pháp luật, các quyền và lợi ích tố tụng của bị can được tôn trọng và thực thi trong giai đoạn điều tra. Hoạt động tố tụng khi tiến hành độc lập mà không có giám sát sẽ dẫn đến lạm quyền. Do đó, giám sát thực hiện quyền con người của bị can là cần thiết, quan trọng và tất yếu. Từ những phân tích trên đây có thể thấy trách nhiệm bảo đảm quyền con người của bị can thuộc về cơ quan lập pháp, các cơ quan có thẩm quyền điều tra, VKS. Các chủ thể này thông qua các hoạt động, hành vi tố tụng của mình làm cho quyền con người của bị can được hiện thực hóa.

3. Chủ thể được bảo đảm quyền con người

Chủ thể được bảo đảm quyền con người là bị can. Trong phạm vi luận án, nghiên cứu sinh chỉ đề cập đến bị can là cá nhân. Trong tiếng Anh không có thuật ngữ bị can mà có thuật ngữ tương tự là “an accused” nghĩa là người bị buộc tội. Tùy theo giai đoạn tố tụng trước phiên tòa hay tại phiên tòa mà có thể hiểu thuật ngữ đó là bị can hay bị cáo. Tương tự, trong tiếng Pháp, có thuật ngữ “accusé” cũng có nghĩa là người bị buộc tội. Việc xác định như thế nào là bị can và tư cách tố tụng bị can phát sinh từ thời điểm nào rất quan trọng. Các quốc gia có những quan điểm khác nhau về vấn đề này. Trong TTHS Italia, một người được coi là bị can ngay khi bị coi là có liên quan đến các yếu tố phạm tội của một VAHS, tức là có xuất hiện yếu tố tội phạm. Trong TTHS Nhật Bản, trước khi có bản cáo trạng, người được tin là thực hiện hành vi phạm tội bị coi là người tình nghi phạm tội (higisha). Trong TTHS Hoa Kỳ, có sự phân biệt giữa nghi can, bị can, bị cáo. Trong đó, nghi can là người chưa bị bắt hoặc chưa bị hỏi cung tại trại giam nhưng đã bị CQĐT tình nghi và đã có hoạt động điều tra chống lại người đó. Bị can là cá nhân đã bị bắt hoặc chất vấn tại trại giam. Trong TTHS Việt Nam, bị can là người bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố. Nhìn chung, về bản chất, bị can là một trong những người bị buộc tội, có những căn cứ ban đầu xác định người đó thực hiện hành vi phạm tội. Về hình thức, một người trở thành bị can khi có quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền hoặc kết quả điều tra cáo buộc một cách chính thức. Với tư cách là bị can, họ có thể bị áp dụng một số biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLTTHS. Do đó, hiểu một cách chung nhất, bị can là người mà có những căn cứ ban đầu cho rằng họ đã thực hiện hành vi phạm tội và đã bị khởi tố về hình sự.

4. Phạm vi về thời gian của bảo đảm quyền con người của bị can

Phạm vi về thời gian của bảo đảm là khoảng thời gian diễn ra của hoạt động bảo đảm. Quá trình giải quyết VAHS gồm rất nhiều giai đoạn khác nhau, các giai đoạn này có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau. Giai đoạn này là các bước, thủ tục nhất định do pháp luật quy định chặt chẽ và do các chủ thể riêng biệt thực hiện. Trong luận án này, phạm vi về thời gian của bảo đảm quyền con người của bị can được giới hạn trong giai đoạn điều tra. Giai đoạn điều tra được nhìn nhận và quy định khác nhau ở các quốc gia phụ thuộc vào mô hình và hình thức tố tụng, cách thức tổ chức bộ máy cơ quan bảo vệ pháp luật- tư pháp ở từng nước. Ở một số quốc gia (Nhật Bản, Italia, Pháp, Hoa kỳ) giai đoạn điều tra là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình tố tụng. Điều tra hình sự thường bắt đầu bằng một khiếu nại hoặc tố cáo về tội phạm. Giai đoạn điều tra thường do cảnh sát hoặc công tố viên tiến hành, cá biệt điều tra có thể thực hiện bởi một đại bồi thẩm đoàn liên bang dưới sự kiểm soát của công tố viên liên bang (TTHS Hoa Kỳ). Mục đích của giai đoạn điều tra là CQĐT trước tiên xác định hành vi phạm tội có xảy ra không. Nếu tội phạm được thực hiện, CQĐT sẽ cố gắng xác định danh tính của người thực hiện hành vi phạm tội đó (TTHS Hoa Kỳ). Cuối giai đoạn điều tra, nếu không đủ thông tin để bảo đảm cho việc truy tố, một báo cáo từ chối được ban hành. Nếu có đủ thông tin để bảo đảm cho việc truy tố, ĐTV sẽ chuẩn bị một báo cáo truy tố. Báo cáo truy tố sẽ tóm tắt thông tin và bằng chứng tiềm năng của vụ việc và phác họa giả định pháp lý về các tình tiết cấu thành tội phạm được phát triển trong quá trình điều tra. Trong TTHS một số quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Liên bang Nga, giai đoạn điều tra trong TTHS được tiến hành sau giai đoạn khởi tố vụ án, trước giai đoạn buộc tội chính thức (truy tố). Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là thu thập chứng cứ của vụ án và chọn lọc chứng cứ để đưa vào hồ sơ vụ án (TTHS Nga) hoặc nhằm làm rõ tội phạm và người phạm tội (TTHS Việt Nam, Trung Quốc). Giai đoạn điều tra bắt đầu khi có quyết định khởi tố vụ án. Kết thúc giai đoạn này, cảnh sát hoặc công tố viên yêu cầu đình chỉ vụ án hoặc chính thức buộc tội bị can. Như vậy, phần lớn các quốc gia ở các mô hình tố tụng khác nhau đều quy định giai đoạn điều tra là một giai đoạn độc lập trong TTHS. Các cơ quan bảo vệ pháp luật hoặc cơ quan tư pháp của các quốc gia là những chủ thể chính trong giai đoạn điều tra. Mục đích của giai đoạn điều tra là khám phá và tìm ra sự thật khách quan, phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ trật tự an ninh, an toàn xã hội. Trong giai đoạn điều tra, ĐTV, công tố viên được phép áp dụng các biện pháp điều tra nhưng phải theo trình tự, thủ tục chặt chẽ được quy định trong BLTTHS. Từ đó, có thể hiểu giai đoạn điều tra là giai đoạn của TTHS trong đó cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.
Do đó, việc điều tra trong TTHS để làm rõ sự thật khách quan của vụ án có liên quan mật thiết với quyền con người. Nếu hoạt động điều tra đúng pháp luật sẽ bảo vệ được quyền con người, nếu hoạt động này có bất kỳ sai lầm nào, dù to hay nhỏ, dù nhiều hay ít, đều dẫn đến những hệ quả tiêu cực, xâm phạm quyền con người.

5. Đối tượng của bảo đảm quyền con người của bị can

Đối tượng được bảo đảm là quyền con người của bị can. Quyền con người được hiểu là “phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có và chỉ có ở con người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại được thể chế hóa trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia”. TTHS là dạng hoạt động đặc biệt của cơ quan nhà nước có chức năng đấu tranh chống tội phạm. TTHS là một lĩnh vực mà những lợi ích thiết yếu của xã hội và của cá nhân bị nghi ngờ xung đột. Danh dự của một cá nhân, tình hình tài chính, tự do cá nhân, thậm chí cả cuộc sống bị đe dọa xâm hại. Hai bên xung đột, cá nhân và xã hội, rõ ràng là có quyền lực bất bình đẳng. Người bị buộc tội không chỉ phải đối mặt với người cáo buộc mình mà còn phải đối mặt với Nhà nước - một tổ chức có cơ cấu chặt chẽ, có quyền lực với những người đại diện được trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật. Với vai trò quản lý và thiết lập trật tự xã hội, nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế để phát hiện và xử lý tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi tiến hành các hoạt động tố tụng. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế này là cần thiết, khách quan nhưng có khả năng xâm hại đến quyền cơ bản của con người. Do đó, quyền con người trong lĩnh vực TTHS có những đặc thù khác với các lĩnh vực hoạt động Nhà nước khác.
Về bản chất, quyền con người trong TTHS là tổng hợp các quyền thuộc nhóm dân sư, chính trị. Quyền dân sự, chính trị liên quan mật thiết đến tự do cá nhân. Thực hiện và bảo đảm tốt quyền dân sự và chính trị tức là thỏa mãn quyền, tự do, lợi ích của cá nhân38. Quyền con người trong TTHS là quyền của người tham gia tố tụng, đó là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người phải chấp hành án, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người phiên dịch, người giám định... Từ những phân tích trên, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí cho rằng “quyền con người trong TTHS là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo đảm việc xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập khách quan đối với những người yếu thế (người bị cáo buộc phạm tội, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người chấp hành án và những người tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơ quan và nhân viên nhà nước có thẩm quyền trong các hoạt động TTHS”.
Trên cơ sở khái niệm quyền con người trong TTHS có thể xác định quyền con người của bị can là quyền thuộc nhóm dân sự- chính trị của cá nhân khi họ tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS. Trong khoa học pháp lý có tác giả xác định quyền con người của bị can trong TTHS bao gồm quyền công dân chung và quyền tố tụng của họ. Quyền công dân và quyền tố tụng liên quan mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau và có tác động qua lại rất lớn với nhau. Tuy nhiên, bị can có thể không phải là công dân của nước sở tại nhưng khi họ tham gia vào TTHS, Nhà nước vẫn phải bảo đảm quyền con người của họ. Mặt khác, như đã phân tích ở trên, quyền con người của bị can và quyền tố tụng của bị can là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết. Do đó, quyền con người của bị can không thể đồng nghĩa với quyền công dân và quyền tố tụng của họ. Có thể coi :“quyền con người của bị can là những quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị của cá nhân khi họ tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS với địa vị là bị can mà Nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và đảm bảo thực hiện trên thực tế”.
Quyền con người của bị can cần được phân biệt với quyền tố tụng của bị can. Đây là hai khái niệm có phạm vi rộng hẹp khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Quyền con người của bị can là quyền cơ bản, vốn có dành cho bị can là cá nhân, được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Quyền con người của bị can là những quyền chung, mang tính khái quát. Quyền tố tụng của bị can là quyền năng của bị can trong tố tụng hình sự, gắn với địa vị pháp lý của bị can, mang tính cụ thể. Quyền tố tụng của bị can là điều kiện, phương thức để thực thi quyền con người của bị can.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê