1. Khái quát về trái phiếu

Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành. Theo đó, người sở hữu frái phiếu là chủ nợ (trái chủ) của công ty. Mặc dù cơ quan nhà nước cũng có quyền phát hành trái phiếu, nhưng trong phạm vi cuốn sách này, các tác giả chi trình bày về trái phiếu doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là trái phiếu).
Có thể hình dung sự khác biệt giữa trái phiếu và cổ phiếu thông qua bảng sau:
Cổ phiếu Trái phiếu
Địa vị pháp lý của người sở hữu Cổ đông công ty Chủ nợ
Quyền quản lý công ty Cỏ Không
Lợi ích Được chia cổ tức khi công ty có lợi nhuận Được trả nợ dù công ty có lợi nhuận hay không
Thứ tự thanh toán khi công ty chấm dứt hoạt động Được thanh toán sau cùng Được thanh toán trước

Một số vấn đề về điều kiện phát hành trái phiếu ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162

2. Phân loại trái phiếu

2.1 Trái phiếu:

Trái phiếu là một loại chửng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả câ gốc và lãi của doanh nghiệp phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành.Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đầu tư chứng khoán. Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng quyền được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong khoảng thời gian xác định.

2.2 Trái phiếu chuyển đổi:

Ngoài loại trái phiếu thông thường, trong công ty cổ phần còn có trái phiếu chuyển đổi, được hiểu là loại trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp phát hành theo điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành trái phiếu .
Như vậy, trái phiếu chuyển đổi về bản chất vẫn là một loại trái phiếu. Có nghĩa, người sở hữu sẽ được trả cả gốc và lãi khi đảo hạn. Ngoài ra, loại trái phiếu này còn mang lại cho trái chủ quyền mua cổ phần của công ty thông qua việc chuyển đổi từ trái phiếu trở thành cổ phiếu .
Như vậy, trái phiếu chuyển đổi có hai đặc điểm quan trọng:
Có lãi suất cố định (thông thường sẽ thấp so với các loại trái phiêu khác) và (ii) Quyền chuyển đổi thành loại cổ phiếu phổ thông của công ty.
về bản chất kinh tế, trái phiếu chuyển đổi được coi là một sản phẩm lồng ghép giữa trái phiếu doanh nghiệp và quyền mua cổ phiếu do chính doanh nghiệp phát hành. Sự khác biệt của trái phiếu chuyển đổi so với trái phiếu thường là quyền chuyển đổi sang cổ phiếu theo một tỷ lệ cố định trong tương lai của trái chủ.
Giá trị trái phiếu chuyển đổi:
Giá trị trái phiếu chuyển đổi = Giá trị trái phiếu
+ Giá trị quyền mua cổ phần
Giá trị trái phiếu: được xác định bằng giá trị hiện tại của các dòng tiền thanh toán gốc và lãi trái phiếu trong suốt kỳ hạn của trái phiếu.
Theo đó, lãi suất của trái phiếu được doanh nghiệp xác định căn cứ vào mức độ uy tín của doanh nghiệp, hiệu quả của dự án đầu tư và tình hình thị trường tài chính, tiền tệ cho từng đợt phát hành. Như vậy, lãi suất danh nghĩa trái phiếu có thể xác định theo một trong các phương thức sau:Cố định cho cả kỳ hạn trái phiếu; Thả nổi theo lãi suất thị trường; Kết hợp giữa lãi suất cố định và thả nổi.
Cần lưu ý rằng, trường họp trái phiếu được phát hành theo phương thức lãi suất thả nổi theo lãi suất thị trường, doanh nghiệp phát hành phải công bố cơ sở tham chiếu được sử dụng để xác định mức lãi suất danh nghĩa trái phiếu thả nổi tại phương án phát hành và công bố công khai cho đối tượng mua trái phiếu.
Giá trị quyền mua cổ phần được xác định theo giá cổ phiếu. Cụ thể, giá trị của quyền mua được xác định bằng phần chênh lệch giữa giá cổ phiếu hiện hành và giá chuyển đổi.
Ví dụ, điều kiện chuyển đổi là người sở hữu trái phiếu có quyền mua cổ phần của công ty với giá là 23.000 đồng/cổ phần, trong đó giá thị trường của cổ phần trên thị trường là 32.000 đồng. Trong trường hợp này, quyền mua cổ phần có giá trị. Điều này khuyến khích trái chủ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu. Nhưng khi chênh lệch giữa giá thị trường và quyền mua < 0 thì lúc đó quyền mua không có giá trị. Khi đó, trái chủ có quyền không múa cổ phần mà họ sẽ lựa chọn lấy tiền mặt và công ty phải chi trả cho họ. Điểm thú vị của loại trái phiếu này là ở chỗ đó.
Như vậy, trong quá trình kinh doanh, cùng dap ứng nhu cầu về vốn, nhưng người quản trị về tài chính của doanh nghiệp phải biết xác định mục tiêu của doanh nghiệp là gì để có những cách kêu gọi vốn phù hợp. Nếu biết sử dụng một cách hợp lý, trái phiếu chuyển đổi có thể là một công cụ để huy động vốn một cách hiệu quả mà không gây ra những xáo trộn về mặt cơ cấu cổ đông và quản trị trong công ty.
Căn cứ vào tính chất có bảo đảm hay không mà trái phiếu được chia thành các loại sau:
- Trái phiếu có bảo đảm: là loại ưái phiếu được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi khi đến hạn bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc bên thứ ba hoặc bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính, tín dụng (khoản 3 Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP).
- Trái phiếu không có bảo đảm: là loại trái phiếu không được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc bên thứ ba hoặc bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính tín dụng.
Người sở hữu trái phiếu chỉ là chủ nợ, bản chất của trái phiếu không làm tăng vốn điều lệ của công ty. Cũng vì thế, thẩm quyền quyết định phát hành trái phiếu thuộc về Hội đồng quản trị mà không phải là Đại hội đồng cổ đông như việc phát hành cổ phiếu.
“Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng quản trị có quyền quyết định loại trải phiếu, tổng giá trị trái phiếu và thời điểm phát hành, nhưng phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp gần nhất. Báo cáo phải kèm theo tài liệu và hồ sơ giải trình nghị quyết của Hội đồng quản trị về phát hành trái phiếu”.

3. Điều kiện phát hành trái phiếu

Công ty thanh toán đủ cả gốc và lãi cùa trái phiếu đã phát hành trước đó.
Thanh toán đầy đủ các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liên tiếp trước đó.
Cần lưu ý rằng, việc phát hành trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn không bị hạn chế
Như vậy, các quy định này chưa đủ cơ sở để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ. • ♦

4. Mua lại cổ phần

4.1. Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông

về nguyên tắc, khi góp vốn thành lập công ty, các cổ đông không có quyền rút vốn. Bản chất của vốn trong công ty, ngoài chức năng dùng để kinh doanh, còn nhằm để thanh toán các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nên khi dành cho cổ đông quyền rút vốn, có nghĩa làm cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp bị giảm sút, qua đó ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ nợ và các bên thứ ba có liên quan.
Tuy nhiên, không phải lúc nào các quyết định của Đại hội đồng cổ đông cũng được hình thành trên cơ sở đồng thuận. Ra đời dựa trên nguyên tắc bảo vệ cổ đông thiểu số, Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định các cổ đông nhỏ có quyên rút vốn ra khỏi công ty. Tuy vậy, việc rút vốn này phải luôn đặt trong tương quan với quyền lợi của chủ nợ và phải tuân theo các điều kiện rất chặt chẽ.

4.2 Điều kiện yêu cầu công ty mua lại cổ phần:

- Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty;
- Phải có yêu cầu bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định;
- Công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán đù các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại..

4.3 Xác định giá mua lại cổ phần:

Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020, công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá.
Công ty giới thiệu ít nhất ba tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng.
Như vậy, tinh thần của Luật doanh nghiệp năm 2020 là dành cho các bên quyền được tự do thỏa thuận về mức giá mua lại cổ phần, miễn sao việc mua lại cổ phần này không nhằm mục đích tẩu tán tài sản, lẩn tránh nghĩa vụ trả nợ với chủ nợ và bên thứ ba. “Giả thị trường của phần vốn góp hoặc cổ phần là giá giao dịch trên thị trường cao nhất ngày hôm trước, giá thỏa thuận giữa người bán và người mua, hoặc giá do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp xác định”.
Như vậy, nhằm tránh xảy ra tranh chấp trong việc xác định giá mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông, các bên nên thỏa thuận trong Điều lệ của công ty nguyên tắc xác định giá mua hoặc yêu cầu ngay từ đầu các tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp để xác định giá mua lại trong trường hợp các cổ đông thực hiện quyền yêu cầu mua lại của mình.

5. Mua lại cổ phần theo quyết định của công ty

5.1 Điều kiện mua lại cổ phần:

- Số lượng mua lại: không quả 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bản, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán;
- Công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác nếu ngay sau khi thanh toán hết sổ cổ phần được mua lại.

5.2 Thẩm quyền quyết định mua lại cổ phần:

Thẩm quyền của Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã được chào bán trong 12 tháng. Ngoài ra đều phải do Đại hội đồng cổ đông của công ty quyết định.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê