Trả lời: 

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2017)

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

2. Nội dung phân tích

Thưa luật sư tôi có 1 người quen , bị bắt năm 1998 . 1999 thì xử 3 tội danh . 14 năm tội tiền giả . 2 năm tội xuất cảnh trái phép . 4 năm tội mua bán phụ nữ. Nhưng trong quá trình cải tạo các phạm nhân trong cùng trại với người quen tôi được miễn tội xuất cảnh trái phép . Còn tôi thì không được miễn . Người quen tôi có làm xin được miễn nhưng tòa án trả lời rất trung trung. Giờ người quen tôi đã được mãn hạn tù. Vậy xin hỏi luật sư vì sao riêng người quen lại không được miễn . Và như vậy tòa án hoặc các cấp có thẩm quyền làm đúng hay sai và người quen tôi có thể khiếu nại được không . Xin luật sư tư vấn. Cảm ơn luật sư.

 Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 )

Điều 25. Miễn trách nhiệm hình sự

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

2. Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

3. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá "

Như vậy, Người phạm tội có một trong những căn cứ nêu trên thì mới có thể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, nếu có đủ căn cứ chứng minh người quen của bạn được miễn trách nhiệm hình sự, anh/cô ấy hoàn toàn có quyền khiếu nại tới cơ quan đang tiến hành thj lý vụ án này

Xin luật sư giải đáp giúp về tình huống sau: T và H là bạn bè cùng thời đại học. Sau khi ra trường, mỗi người có một công việc khác nhau. Trưa ngày 4/6/2013, H về thành phố Đ tình cờ gặp T đang đi xe máy SH vừa mới mua, chưa kịp đăng ký (trị giá 130 triệu đồng). Sau khi trò chuyện khoảng 15 phút T mời H đi ăn cơm và H đề nghị T để H cầm lái đi thử xe mới, T ngồi sau và được T đồng ý. Khi xe đến khu vực đường N H giả vờ đánh rơi chiếc túi xách đựng đồ cá nhân (bên trong chỉ có một bộ quần áo cũ). T ngồi sau nên H nói "bạn xuống nhặt hộ tớ", khi T vừa quay lại khoảng 5 mét Hải đã tăng tốc xe máy chạy thẳng. T chưa kịp quay lại nhặt túi đồ của H đã phát hiện nên đã truy hô. Sau đó H đã bị bắt giữ. Xác định tội danh của H 

 Cuộc trò chuyện giữa T và H có thể là cơ sở xác minh H biết rõ đây là tài sản của T. Hành vi khách quan mà H thực hiện cho thấy H đã sử dụng thủ đoạn gian dối khiến T lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản của T. Hành vi của H đã cấu thành tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự như sau:

Điều 133. Tội cướp tài sản

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin xóa án tích mới nhất và Tư vấn lập hồ sơ đăng ký xóa án tích

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm"

P là thợ sơn được thuê hoàn thiện nhà riêng cho một gia đình. Trong thời gian làm việc P để ý thấy gia đình đối diện không làm lưới bảo hiểm ban công, trong khi khoảng cách giữa hai nhà khá gần. Một đêm thấy nhà đối diện quên đóng cửa ban công P đã trèo sang và vào nhà lấy một chiếc túi xách có chứa điện thoại di động, tiền. Trong lúc lục tìm thêm tài sản, P gây ra tiếng động và bị G (chủ nhà) phát hiện. G giữ lại chiếc túi, P đã dùng tay đấm rất mạnh vào mặt làm G choáng váng, ngã xuống sàn nhà. P sau đó tẩu thoát cùng chiếc túi đựng tiền và chiếc điện thoại di động. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 20 triệu đồng. G sau đó được người nhà phát hiện đưa đi cấp cứu và bị tổn hại sức khỏe 35%. Hỏi: 1. Hành vi của P cấu thành tội gì và khung hình phạt áp dụng với P? Tại sao? 2. Giả sử, G do bị ngã xuống đập đầu vào nền gạch nên đã chết thì tội danh của P có thay đổi không? Tại sao? 3. Giả định trường hợp, P chưa lấy được túi đựng tiền, khi bị phát hiện đã có hành vi xô ngã G và bỏ chạy. G bị ngã xuống cầu thang, đập đầu vào lan can cầu thang gây thương tích 25%, thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với P được xác định thế nào? Tại sao?

 1. P đã có hành vi lén lút lấy tài sản của G, bên cạnh đó giá trị tài sản mà P lấy là 20 triệu. Vì vậy, hành vi của P cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm đ, khoản 2 điều 138 Bộ luật hình sự như sau:

Điều 138. Tội trộm cắp tài sản

>> Xem thêm:  Đối tượng tác động của tội phạm ? Phân biệt với khách thể của tội phạm ?

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọnghoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng."

2. Nếu G ngã và chết thì tội danh của P không thay đổi. Nhưng khung hình phạt áp dụng với P sẽ thuộc quy định tại khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự nêu trên. Cụ thể, căn cứ quy định tại điểm 3.4 khoản 3 Mục I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP

>> Xem thêm:  Mẫu đơn bãi nại vụ án hình sự, giảm nhẹ hình phạt mới nhất 2021

" 3.4. Để xem xét trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng và trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về nguyên tắc chung phải đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ các hậu quả (thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và các thiệt hại phi vật chất). 

Nếu gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản thì được xác định như sau: 

a) Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây là gây hậu quả nghiêm trọng: 

a.1) Làm chết một người; "

3. Trường hợp P chưa lấy được túi đựng tiền, khi bị phát hiện đã có hành vi xô ngã G và bỏ chạy. G bị ngã xuống cầu thang, đập đầu vào lan can cầu thang gây thương tích 25% thì tội danh của P vẫn được xác định là trộm cắp tài sản nhưng thuộc quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự căn cứ hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP

Thưa luât sư cháu là người bị hại trong 1 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội internet và cụ thể là game online .cháu có mua 3 nick name ( tên gọi khác của tài khoản game online ) do một người bạn có quen biết và quan hệ khá thân thiết với người bạn đó và cũng có qua lại với gia đình bố mẹ của bạn đó.vì sự tin tưởng đó cháu có mua với giá trị tài sản cháu mua của người bạn là 21 triệu 500 nghìn đồng.cách đây 3-4 ngày người bạn đó có bỏ nhà đi không có lý do gì cả.gia đình cố gắng liên lạc nhưng không được và số nick name( 3 tài khoản game online) của cháu cũng không cánh mà bay.theo sự hiểu biết của cháu là người bạn đó đã lấy lại nick name của cháu và gửi hết thông tin liên quan đến 3 tài khoản của cháu cho shop( cửa hàng mua bán nic game online ) để bán lại cho họ. vậy kính thưa luật sư với tư cách người bị hại.cháu có thể làm những thủ tục gì cần thiết để cháu có thể kiện bị đơn ra tòa với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ạ. rất mong sự tư vấn và giúp đõ của luật sư ạ.cháu xin chân thành cảm ơn

Hiện nay giao dịch mua tài khoản ảo không được quy định là giao dịch mua bán tài sản hay hàng hóa. Vì vậy, để thực hiện những thủ tục pháp lý để đảm bảo quyền và lợi ích cá nhân của bạn sẽ gặp khó khăn. Bên cạnh đó, giao dịch mua bán của bạn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh vì vậy cơ sở để bạn có thể khởi kiện hoặc tố cáo không đầy đủ và có thể hồ sơ khởi kiện của bạn có thể không được thụ lý 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài gọi số1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.  

>> Xem thêm:  Hướng dẫn trình tự, thủ tục xóa án tích ? Hồ sơ xin xóa án tích ?