1. Tác phẩm The Wealth of Nations

Thật khó để có thể đánh giá một quyển sách khi chưa xem qua nó, trong trường hợp tác phẩm The Wealth of Nations, việc đọc quyển sách này quả là một công việc đáng khâm phục. Việc đọc tác phẩm The Wealth of Nations là nhiệm vụ mà mỗi sinh viên khoa kinh tế nên tìm đọc (ít nhất là một lần). Vì quyển sách chứa đựng rất nhiều nội dung khác ngoài sự công kích chủ nghĩa Trọng thương (độc quyền) nổi tiếng của Smith và sự biện hộ của ông về tự do tự nhiên (bất can thiệp), chính vì điểm này mà quyển sách mới trở nên nổi tiếng. Rõ ràng, đây là một tác phẩm rất tuyệt, nếu xét theo tiêu chuẩn của thế kỷ 20, không phải là tác phẩm kinh điển nở hoa muộn màng mà còn nhiều chuyên luận kinh tế khác. Rất nhiều người đọc và trích dẫn ngay cả lúc Smith còn sinh thời.

Có thể nói đây là một trong những cuốn sách của Adam Smith nổi tiếng nhất, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1776, đánh dấu tư tưởng cách tân thời bấy giờ về nền kinh tế hiện đại và cho đến nay tư tưởng của Adam Smith vẫn chứng minh sự đúng đắn khi sự trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản. Bằng lối viết rõ ràng và vô cùng sắc sảo, The Wealth of Nations đã đưa đến bạn đọc những khái niệm không thể thiếu về một xã hội tân tiến, đề tựa của sách được viết bởi Robert Reich đã nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của Adam Smith trong cuốn sách này.

Trích Reich: “Tư tưởng của Smith đề cập đến những khái niệm mà cho đến hôm nay đã minh chứng là đúng đắn dù thời điểm ông đưa ra khái niệm là vào cuối thế kỷ 18 về việc làm, tiền lương, chính trị, chính phủ, thương mại, giáo dục, kinh doanh và đạo đức.”

Đôi khi phần nào ít đọc nhất lại là phần thú vị nhất khi Smith lạc đề về lịch sử giáo dục thời Trung cổ hay phương pháp chọn giám mục trong nhà thờ thời cổ đại. Bất kể những vấn đề lạc đề này, The Wealth of Nations vẫn chứa đựng phân tích kinh tế xác đáng và quan trọng.

Phần duyệt tóm tắt nội dung quyển The Wealth of Nations cho thấy xử lý rất rộng. Tập I, nghiên cứu về phân công lao động, nguồn gốc và sử dụng tiền tệ, và xác định giá cả, tiền lương, lợi nhuận và tiền thuê đất, và sự lạc đề sinh động về những biến đổi trong giá trị của bạc. Tập II đề cập lý thuyết về vốn và lãi thường bị phỉ báng của Smith. Trong tập III, ôn lại sự phát triển kinh tế ở châu Âu từ thời cổ đại đến thế kỷ 18. Tập IV đề cập những hệ thống kinh tế chính trị khác nhau kể cả sự phê bình gay gắt chủ nghĩa Trọng thương và rào cản tự do mậu dịch. Tập V kết luận bằng chuyên luận khá dài về sự đánh thuế và chính sách tài chính ở Anh thế kỷ 18. Không phải ngạc nhiên, ngày nay một số nhà kinh tế khoe rằng mình đã đọc hết toàn bộ từ đầu đến cuối kiệt tác này.

2. Cơ sở kinh tế vi mô trong The Wealth of Nations

Vì đề cập vô số chủ đề kinh tế, chủ đề trọng tâm của The Wealth of Nations như học thuyết Trọng nông là sự tăng trưởng kinh tế. Trong khi phái Trọng nông tập trung vào sự phát triển sản phẩm ròng, thì Smith nhấn mạnh đến sự phát triển của cải quốc gia (theo từ chuyên ngành hiện nay, ý ông muốn nói thu nhập quốc gia). Nhưng hơn cả phái Trọng nông, Smith tiếp tục nghiên cứu thuyết giá trị, vì thế khắc phục khiếm khuyết nghiêm trọng trong phân tích của phái Trọng nông. Nói cách khác, sự quan tâm kinh tế vĩ mô của Smith đối với tăng trưởng kinh tế vẫn dựa vào một số cơ sở kinh tế vi mô, đáng kể nhất là thuyết giá trị.

3. Thuyết giá trị

Chương viết về giá trị trong The Wealth of Nations mở đầu bằng việc thảo luận về ưu điểm của phân công lao động và sử dụng tiền tệ trong xã hội tiên tiến. Adam Smith cho rằng phân công lao động phát sinh từ một xu hướng trong nhân tính phải trao đổi, mỗi thương gia phải có (tiền) dự trữ để đổi lấy nhu cần cần thiết. Tiền tệ khiến cho thương mại thuận tiện hơn đến mức nói chung được mọi người chấp nhận và dễ mang theo. Khi ấy giá trị được xác định bằng những nguyên tắc mà con người tuân theo một cách đương nhiên trong việc trao đổi hàng hóa để lấy tiền hay hàng hóa khác. Smith đặt vấn đề giá trị trong nghịch lý sau đây:

“Từ giá trị... có hai nghĩa khác nhau, đôi lúc diễn đạt tính hiệu dụng của một số mặt hàng cụ thể, đôi lúc là khả năng mua hàng hóa khác mà quyền sở hữu mặt hàng đó chuyển nhượng. Một gọi là “giá trị sử dụng”, một là “giá trị trao đổi”. Mặt hàng có giá trị sử dụng cao nhất thường ít hay không có giá trị, trái lại mặt hàng có giá trị trao đổi cao nhất thường ít hay không có giá trị sử dụng. Không gì hữu dụng hơn nước, nhưng hầu như không có chuyện mua nước, cũng hiếm có mặt hàng nào trao đổi với nước. Trái lại, một viên kim cương, hầu như hiếm có giá trị sử dụng nhưng cần phải có một lượng hàng hóa rất lớn mới đổi được”. (Wealth of Nations, trang 28).

Kinh tế học cổ điển không thể giải quyết nghịch lý giá trị này hay sự phân biệt giữa giá trị sử dụnggiá trị trao đổi, bởi lẽ trong tư cách một nhóm, các nhà kinh tế học cổ điển không cố gắng giải thích sự tồn tại và ý nghĩa của định giá biên tế trong thương trường. Đối với Smith, ông trình bày cách giải thích về giá trị trao đổi hay giá tương đối và tính co dãn giá cả này qua thời gian.

4. Lao động làm thước đo giá trị

Tập I, từ Chương 5 đến 7 trong quyển The Wealth of Nations đề cập trọng tâm về vấn đề giá trị trao đổi của Smith. Giải thích sau đó của Smith về vấn đề này thường bị nhầm lẫn bởi thực tế trong những chương này có vẻ ông thảo luận cùng lúc cả thước đo giá trị (giá cả) và nguyên nhân giá trị. Ví dụ trong Chương 5, ông viết:

“Giá trị của bất kỳ hàng hóa nào... đối với người đang sở hữu nó, và người đó không có ý định sử dụng hay tiêu dùng cho bản thân, mà phải trao đổi để lấy hàng hóa khác, bằng với số lượng lao động giúp anh ta có thể mua hay điều khiển. Vì thế, lao động là thước đo thực sự của giá trị có thể trao đổi mọi loại hàng hóa”. (Wealth of Nations, trang 30).

Quan điểm này cho rằng những gì được mua bằng tiền hay bằng hàng hóa đều được tạo bằng lao động có vẻ như Smith lấy từ quan điểm của bạn ông là David Hume, mặc dù quan điểm tương tự đã được những người đi trước Smith ví dụ như Sir William Petty phát biểu. Thế nhưng, có một số khó khăn về thực tế và lý thuyết trong thuyết giá trị lao động, và Smith biểu lộ nhận thức của ông về những vấn đề này:

“Thường rất khó khẳng định tỉ lệ giữa hai số lượng lao động khác nhau. Thời gian chi phí cho hai loại công việc khác nhau không phải lúc nào cũng xác định được tỉ lệ này. Mức độ khó nhọc khác nhau kéo dài, và mức độ khéo léo phải thực hiện, đều phải tính đến. Lao động trong một giờ làm việc chuyên cần nhiều hơn lao động của hai giờ buôn bán thư nhàn, hay một giờ áp dụng vào thương mại bằng chi phí mười năm lao động học tập, hơn cả sự cần cù hàng tháng trong việc làm thông thường và cụ thể. Nhưng việc đánh giá sự khó nhọc hay khéo léo không phải là dễ. Thực ra trong trao đổi với nhau các sản phẩm khác nhau thuộc nhiều loại lao động khác nhau, một số trợ cấp thường dành cho cả hai. Thế nhưng, phải được điều chỉnh không phải bằng cách đánh giá chính xác nào mà bằng sự mặc cả, thương lượng của thị trường, theo loại bình đẳng phỏng chừng, dù không chính xác, nhưng cũng hiệu quả để tiến hành kinh doanh trong đời sống bình thường”. (Wealth of Nations, trang 31).

5. Giá cả

Dĩ nhiên tiền tệ là thước đo giá trị thông thường nhất, nhưng Smith cũng nhận thấy những khiếm khuyết của thước đo tiền tệ, vì giá trị của chính bản thân tiền tệ sẽ thay đổi qua thời gian. Vì thế ông cất công phân biệt cẩn thận giữa giá thực tế và giá danh nghĩa trong suốt phần còn lại trong Chương 5 của tác phẩm The Wealth of Nations. Ông chỉ rõ:

“Lao động, giống như hàng hóa có thể có giá thực tế và giá danh nghĩa. Giá thực tế bao gồm số lượng những điều cần thiết và sự thuận tiện của cuộc sống dành cho nó, giá danh nghĩa nằm trong số tiền. Người lao động có thể giàu hay nghèo, được thưởng nhiều hay ít, tỉ lệ với giá thực tế chứ không phải giá danh nghĩa lao động của anh ta”. (Wealth of Nations, trang 33).

Trong Chương 6, Adam Smith làm rõ khi con người rời khỏi “tình trạng xã hội thô sơ ban đầu trước khi tích lũy vốn và chiếm đất đai làm của riêng”, chỉ riêng lao động không thôi vẫn chưa đủ để giải thích giá thị trường. Các nền kinh tế Tư bản mang đặc điểm tích lũy Tư bản và quyền sở hữu tài sản cá nhân về ruộng đất và các tài nguyên khác. Vì thế trong xã hội tiên tiến hơn, theo Smith, giá thị trường được giải quyết thành ba thành phần:

“Tiền lương, lợi nhuận và tiền thuê đất là ba nguồn chính của mọi thu nhập cũng như mọi giá trị có thể trao đổi. Tất cả thu nhập khác [thu nhập tiền lãi, thuế, v.v...] sau cùng rút ra từ nguồn này hay nguồn khác trong ba nguồn này”. (Wealth of Nations, trang 52).

Bằng cách tính lợi nhuận như một trong những thành phần cần thiết của giá, Smith chứng minh sự hiểu biết khái niệm phí tổn cơ hội. Ông nhận xét:

“Mặc dù trong ngôn ngữ thông thường những gì gọi là giá gốc của bất kỳ hàng hóa nào không nên hiểu là lợi nhuận của người phải bán hàng hóa ấy thêm lần nữa, nhưng nếu anh ta bán hàng với giá không để cho anh ta có mức lợi nhuận thông thường so với người bên cạnh, thì rõ ràng anh ta là người thua lỗ trong kinh doanh, nếu sử dụng vốn theo một số cách khác thì lẽ ra anh ta cũng có được lợi nhuận này”. (Wealth Of Nations, trang 55).

Lưu ý: sự phát triển quan điểm tự nhiên của hai chương 5, 6 trong The Wealth of Nations. Nhiều tác giả đi đầu đều biết thuyết giá trị chi phí-lao động, nhiều tác giả theo sau quy thuyết trên cho Adam Smith. Nhưng giải thích của ông thực sự là vấn đề hoàn taofn khác. Ông cho rằng phải tính đến thước đo giá trị thật sự, theo nghĩa chính xác, là thời gian lao động. Ông cũng thừa nhận nguồn giá trị là chi phí sản xuất cần thiết cho mỗi hàng hóa. Tóm lại, Smith cảm thấy thuyết giá trị lao động chỉ có giá trị đối với các xã hội nguyên thủy nơi lao động tượng trưng cho yếu tố sản xuất chính (nếu không nói là duy nhất).

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)