1.Thế nào là cam kết bảo lãnh không hủy ngang

Cam kết bảo lãnh không hủy ngang có thể được hiểu tương tự như giải thích sau: “Cam kết cho vay không hủy ngang là cam kết cho vay không thể hủy bỏ hoặc thay đổi dưới bất kỳ hình thức nào đối với những cam kết đã được thiết lập, trừ trường hợp phải hủy bỏ hoặc thay đổi theo quy định của pháp luật”.

Việc cam kết không hủy ngang cũng không có giá trị gì khác hơn so với bình thường, vì về nguyên tắc, mọi cam kết, thỏa thuận đã được ràng buộc nghĩa vụ theo pháp luật thì không được hủy ngang. “Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”, vì vậy, dù bên bảo đảm tự ý hủy ngang thì vẫn phải gánh chịu hậu quả pháp lý tương ứng, kể cả trường hợp được hủy ngang khi có thỏa thuận hoặc pháp luật cho phép.

Việc cam kết thanh toán vô điều kiện cũng không cần thiết, vì đã phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh thì phải thanh toán, không được phép chối bỏ. Nội dung cam kết thanh toán vô điều kiện chỉ có ý nghĩa khi không đặt ra bất cứ điều kiện thanh toán nào. Còn nếu đã đặt ra điều kiện trực tiếp hay gián tiếp chứng minh bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ hoặc không có khả năng thanh toán hoặc yêu cầu bên nhận bảo lãnh phải thực hiện một nghĩa vụ nào khác thì đã trở thành việc thanh toán “có điều kiện”, chứ không còn là “vô điều kiện”.

Việc thư bảo lãnh ghi nhận chỉ được lập thành một bản gốc duy nhất cũng là không cần thiết, vì lập thành bao nhiêu bản gốc cũng không ảnh hưởng đến nghĩa vụ và giá trị bảo lãnh. Đặc biệt điều này sẽ càng trỏ nên bất hợp lý nếu như đồng thời đòi hỏi phải xuất trình hay phải nộp bản gốc thư bảo lãnh cho bên bảo lãnh. Như vậy thì càng có thêm căn cứ để bên bảo lãnh không thanh toán cho bên nhận bảo lãnh nếu không xuất trình bản gốc. Nghĩa vụ thanh toán bảo lãnh mặc nhiên được phát sinh không phụ thuộc vào việc có hay không có xuất trình bản gốc.

2. Bảo lãnh đối với khách hàng là người không cư trú

Căn cứ theo Điều 11 Thông tư 07/2015/TT-NHNN 

Quy định về các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được bảo lãnh cho khách hàng tổ chức là người không cư trú. Việc bảo lãnh cho khách hàng tổ chức là người không cư trú phải đáp ứng một trong những điều kiện dưới đây:

a) Khách hàng là doanh nghiệp thành lập và hoạt động tại nước ngoài có vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam dưới hình thức đầu tư quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 52 Luật Đầu tư 2014 hoặc dưới hình thức đầu tư trực tiếp khác tại nước ngoài theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư;

b) Khách hàng ký quỹ đủ 100% giá trị bảo lãnh;

c) Bên nhận bảo lãnh là người cư trú.

2. Trường hợp khách hàng là tổ chức tín dụng ở nước ngoài thì không phải thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi thực hiện bảo lãnh cho khách hàng tổ chức là người không cư trú phải tuân thủ các quy định sau:

a) Được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động ngoại hối cơ bản trên thị trường trong nước (đối với trường hợp bảo lãnh cho người không cư trú tại Việt Nam) và hoạt động ngoại hối cơ bản trên thị trường quốc tế (đối với trường hợp bảo lãnh cho người không cư trú ở nước ngoài);

b) Tuân thủ quy định tại các Điều 126, Điều 127, Điều 128 và Điều 130 Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn thực hiện các quy định này của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm thực hiện bảo lãnh cho khách hàng;

c) Có quy trình đánh giá, quản lý rủi ro tín dụng, trong đó có rủi ro trong bảo lãnh đối với người không cư trú;

d) Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được bảo lãnh bằng ngoại tệ đối với khách hàng tổ chức là người không cư trú ở nước ngoài, trừ các trường hợp sau:

a) Bảo lãnh cho bên được bảo lãnh tại Việt Nam trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của tổ chức tín dụng ở nước ngoài;

b) Xác nhận bảo lãnh cho nghĩa vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng ở nước ngoài đối với bên được bảo lãnh tại Việt Nam.

5. Ngoài các quy định tại Điều này, các nội dung khác về việc bảo lãnh đối với người không cư trú phải thực hiện theo quy định tại Thông tư này.

3. Một ví dụ liên quan đến việc yêu cầu xuất trình bản gốc thư bảo lãnh.

Ngày 06 và 22/10/2011, Ngân hàng thương mại cổ phần B - Chi nhánh HN đã phát hành 2 thư bảo lãnh để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và xây dựng H mua thép của Công ty cổ phần Gang thép T.
Thư bảo lãnh có ghi: “Ngân hàng B - Chi nhánh HN sẽ thay mặt cho Bên được bảo lãnh chịu trách nhiệm thanh toán cho Bên nhận bảo lãnh một khoản tiền tối đa bằng giá trị bảo lãnh sau khi nhận được văn bản yêu cầu đầu tiên của Bên nhận bảo lãnh kèm theo hồ sơ chứng minh Bên được bảo lãnh đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Bên nhận bảo lãnh” và “Bất cứ yêu cầu nào liên quan đến bảo lãnh phải được xuất trình tại Bên bảo lãnh trong thời hạn bảo lãnh của Thư bảo lãnh kèm theo Thư bảo lãnh gốc này”.
Tháng 5/2012, Ngân hàng B - Chi nhánh HN không thanh toán cho Công ty T với một trong những lý do chính là Bên nhận bảo lãnh chưa xuất trình được bản gốc Thư bảo lãnh.
Bản án số 05/2014/KDTM-ST ngày 25/9/2014 của Toà án nhân dân thành phố N đã không chấp nhận yêu cầu của T về việc buộc Ngân hàng B - Chi nhánh HN phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Bản án phúc thẩm số 01/2015/KDTM-PT ngày 22/6/2015 của Toà án nhân dân tỉnh N đã buộc Ngân hàng B - Chi nhánh HN phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trả cho Công ty T 80 tỷ đồng.
Tuy nhiên, vụ án này vẫn chưa rõ kết quả cuôì cùng, vì ngày 28/10/2015, Chánh án Toà án cấp cao tại HN đã ra Quyết định số 01/2015/KN-KDTM kháng nghị Bản án phúc thẩm này theo thủ tục giám đốc thẩm.

Quyết định số 01/2015/KN-KDTM kháng nghị Bản án phúc thẩm này theo thủ tục giám đốc thẩm.

4. Điều kiện để doanh nghiệp được Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Việc bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vôh tại ngân hàng thương mại được thực hiện theo Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg. Theo quy định tại Quyết định này điều kiện để doanh nghiệp được Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) bảo lãnh vay vốn như sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa (trừ doanh nghiệp siêu nhỏ) theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”;

Thứ hai, vay vốn trung hạn, dài hạn bằng đồng Việt Nam để thực hiện dự án sản xuất kinh doanh thuộc ngành, lĩnh vực quy định tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành “Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam”, bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp chế biến, chế tạo; sản xuất khí đốt, nưốc nóng, hơi nước và điều hòa không khí; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải; xây dựng; sửa chữa ôtô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; vận tải, kho bãi;

Thứ ba, có dự án đầu tư có hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn vay (do VDB thẩm định và quyết định bảo lãnh); 

Quy định về quản lý ngoại hối trong bảo lãnh

1. Việc phát hành bảo lãnh bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải phù hợp với phạm vi hoạt động ngoại hối trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế của từng loại hình tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho tổ chức, cá nhân đối với nghĩa vụ tài chính hợp pháp bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, có tối thiểu 15% vốn chủ sở hữu tham gia dự án đầu tư;

Thứ năm, tại thời điểm đề nghị bảo lãnh, không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng.

5.  Bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai

Khi thực hiện bảo lãnh cho chủ đầu tư dự án bất động sản để bán và cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định tại Điều 56 Luật kinh doanh bất động sản, ngân hàng thương mại phải tuân thủ các quy định sau đây:

- Nhà ở hình thành trong tương lai có đủ điều kiện được bán và cho thuê mua theo quy định tại Điều 55 Luật kinh doanh bất động sản;

- Trong hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở ký kết giữa chủ đầu tư và bên mua, bên thuê mua có quy định nghĩa vụ của chủ đầu tư phải hoàn lại tiền cho bên mua, do đó bên thuê mua khi chủ đầu tư vi phạm nghĩa vụ bàn giao nhà ở theo tiến độ đã cam kết với bên mua, bên thuê mua;

- Ngân hàng thương mại đánh giá chủ đầu tư có khả năng thực hiện đúng tiến độ dự án và sử dụng số tiền ứng trước, các khoản tiền khác của bên mua, bên thuê mua đã trả cho chủ đầu tư đúng mục đích;

- Ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc tại văn bản sửa đổi, bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động;

- Thỏa thuận cấp bảo lãnh với chủ đầu tư, cam kết bảo lãnh phải phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 56 Luật kinh doanh bất động sản 2014;

- Cam kết bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải có hiệu lực đến thời điểm ít nhất sau 30 ngày kể từ ngày bàn giao nhà cho bên mua, bên thuê mua nhà ở theo thỏa thuận của chủ đầu tư với bên mua, bên thuê mua nhà ở.

Nói về hợp đồng bảo lãnh theo quy định tại Điều 56 Luật kinh doanh bất động sản được lập dưới một trong các hình thức cam kết bảo lãnh quy định tại khoản 12 Điều 3 và Điều 15 Thông tư này.

Ngoài các quy định tại khoản 1, 2 Điều này, các nội dung khác về việc bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải thực hiện theo quy định tại Thông tư này.

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)