1. Thế nào là vi bằng?

Vi bằng là một loại văn bản ghi nhận chính xác các sự kiện và hành vi thực tế mà Thừa phát lại đã chứng kiến trực tiếp, được lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, theo quy định của Nghị định 08/2020/NĐ-CP.

Từ đó, ta có thể hiểu rằng vi bằng được lập ra nhằm mục đích ghi nhận sự kiện và hành vi, tức là xác nhận rằng vào ngày đó đã có giao dịch, thỏa thuận giữa các bên và vi bằng có giá trị làm căn cứ, chứng cứ trong việc giải quyết các vụ án tại Tòa án, không phải để chứng nhận việc mua bán nhà đất bằng vi bằng. Thừa phát lại sẽ mô tả, ghi nhận lại hành vi và sự kiện mà Thừa phát lại chứng kiến một cách trung thực và khách quan. Trong trường hợp cần thiết, Thừa phát lại có quyền mời người làm chứng chứng kiến quá trình lập vi bằng. Vi bằng chỉ ghi nhận những điều có thật và đã diễn ra trên thực tế, không thừa nhận hay đánh giá tính hợp pháp của các hành vi, sự kiện và quan hệ xã hội.

Đồng thời, theo khoản 2 Điều 36 của Nghị định 08/2020/NĐ-CP, vi bằng không thể thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực hoặc văn bản hành chính khác. Giá trị của vi bằng chỉ được coi là bằng chứng, nguồn chứng cứ mà Tòa án sử dụng khi giải quyết các vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để xác lập giao dịch giữa các cơ quan, cá nhân và tổ chức theo quy định của pháp luật.

 

2. Mua nhà vi bằng có được pháp luật thừa nhận hay không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật Nhà ở năm 2014, trong trường hợp mua bán nhà ở, việc công chứng và chứng thực hợp đồng là bắt buộc. Tương tự, khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định về việc công chứng và chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (trừ một số trường hợp).

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 28, vi bằng do Thừa phát lại lập chỉ có giá trị pháp lý trong hai trường hợp sau đây:

- Là chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án.

- Là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Vi bằng không có giá trị thay thế cho hợp đồng được công chứng và chứng thực.

Do đó, vi bằng không thể được sử dụng thay thế cho hợp đồng được công chứng và chứng thực. Việc mua nhà thông qua việc lập vi bằng không tuân theo quy định của pháp luật.

Lập vi bằng khi mua bán nhà đất là một hình thức không được công nhận theo quy định của pháp luật, vì nếu sử dụng vi bằng thì hợp đồng chuyển nhượng sẽ không được coi là đã được công chứng và chứng thực. Vi bằng chỉ có tác dụng ghi nhận vụ giao dịch và chỉ có giá trị làm chứng cứ trong các vụ án tranh chấp dân sự. Do đó, việc lập vi bằng khi mua nhà chỉ có nghĩa là việc xác minh rằng đã có giao dịch mua nhà được thực hiện, không phải là việc xác minh hiệu lực pháp luật của hợp đồng chuyển nhượng mua bán nhà ở.

 

3. Mua nhà vi bằng có làm được hộ khẩu hay không?

Từ ngày 01/01/2023, theo quy định mới, Sổ hộ khẩu giấy đã cấp sẽ bị loại bỏ và người dân sẽ phải thực hiện thủ tục đăng ký thường trú và tạm trú. Thay vì ghi thông tin về nơi cư trú vào Sổ hộ khẩu hoặc Sổ tạm trú, thông tin này sẽ được cập nhật trên hệ thống điện tử để quản lý thống nhất.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật Cư trú 2020, khi người dân thực hiện thủ tục đăng ký thường trú tại nơi ở hợp pháp, họ sẽ cần nộp hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm các loại giấy tờ sau:

- Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.

- Giấy tờ, tài liệu chứng minh việc sở hữu chỗ ở hợp pháp.

Cụ thể, các loại giấy tờ, tài liệu chứng minh việc sở hữu chỗ ở hợp pháp được quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định 62/2021/NĐ-CP bao gồm:

  • Giấy tờ, tài liệu chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà hoặc tài sản gắn liền với đất do cơ quan có thẩm quyền cấp (bao gồm thông tin về nhà ở).
  • Giấy phép xây dựng theo quy định pháp luật về xây dựng (đối với trường hợp công trình đã xây dựng và đã có giấy phép xây dựng).
  • Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước hoặc giấy tờ hóa giá thanh lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.
  • Hợp đồng mua nhà ở hoặc giấy tờ chứng minh việc đã bàn giao nhà ở, đã nhận nhà ở từ doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư xây dựng để bán.
  • Giấy tờ về mua, thuê mua, nhận tặng, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở phù hợp với quy định pháp luật về đất đai và nhà ở.
  • Giấy tờ về giao tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, cấp nhà ở, đất ở cho cá nhân, hộ gia đình.
  • Giấy tờ của Tòa án hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền đã giải quyết sở hữu nhà ở và có hiệu lực pháp luật.
  • Giấy tờ có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại nơi không có đơn vị hành chính cấp xã về nhà ở, đất ở không có tranh chấp quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nếu không có một trong các giấy tờ trên.
  • Giấy tờ chứng minh đăng ký, đăng kiểm phương tiện thuộc quyền sở hữu. Trường hợp phương tiện không phải đăng ký, đăng kiểm, cần có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại nơi không có đơn vị hành chính cấp xã về việc phương tiện được sử dụng để ở; Giấy xác nhận đăng ký nơi thường xuyên đậu, đỗ của phương tiện nếu nơi đăng ký cư trú không phải là nơi đăng ký phương tiện hoặc phương tiện đó không được đăng ký, đăng kiểm.
  • Giấy tờ, tài liệu chứng minh việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là văn bản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ của cơ quan, tổ chức, cá nhân phù hợp với quy định pháp luật về đất đai và nhà ở.
  • Giấy tờ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, do thủ trưởng cơ quan, tổ chức ký tên và đóng dấu chứng minh việc được cấp, sử dụng nhà ở, chuyển nhượng nhà ở hoặc có nhà ở tạo lập trên đất do cơ quan, tổ chức giao đất để làm nhà ở (đối với nhà ở, đất thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức).

Theo Luật Đất đai 2013, hợp đồng chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho và góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản. Nếu hợp đồng không có công chứng hoặc chứng thực, việc chuyển nhượng sẽ không được công nhận và không đáp ứng đủ yêu cầu để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do đó, mua nhà đất thông qua vi bằng sẽ không đủ điều kiện để nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Điều này cũng áp dụng cho việc sử dụng vi bằng làm giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 54 Điều 2 của Nghị định 01/2017/NĐ-CP, trong một số trường hợp, việc mua đất bằng hợp đồng viết tay không có công chứng hoặc chứng thực vẫn được công nhận bởi pháp luật. Vì vậy, nếu giao dịch mua bán nhà đất bằng vi bằng đã xảy ra trước ngày 01/7/2014, người mua vẫn có thể sử dụng hợp đồng viết tay này khi thực hiện thủ tục đăng ký đất đai lần đầu theo quy định pháp luật về đất đai. Người mua có thể kết hợp hợp đồng viết tay này với Đơn đăng ký đất đai lần đầu được xác nhận bởi UBND cấp xã hoặc Cơ quan đăng ký đất đai để làm giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp.

Để tìm hiểu thêm những thông tin liên quan, mời quý bạn đọc cùng tham khảo thêm bài viết sau của Luật Minh Khuê: Có nên mua nhà công chứng vi bằng không? Kinh nghiệm lập vi bằng

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Mua nhà vi bằng có làm được hộ khẩu hay không? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.