1. Mua thuốc lắc để sử dụng có bị truy tố trách nhiệm hình sự không ?

Thưa luật sư, Cho em hỏi bạn của em nó sự dụng thuốc lắc nên đi mua về để sử dụng. Sau khi mua 4 viên thuốc lắc thì bạn em chở vợ của nó đi trên đường, bị công an bắt và đưa về đồn. Kiểm tra là nó có sử dụng, nhưng đưa nó vào tội tàng trữ ma tuý nên bị tạm giam, còn vợ nó không liên quan nên được thả về. Cho e mhỏi như vậy bạn em có bị truy tố hình sự không ạ ? Và nếu có thì mức án như thế nào là hợp lý nhất ạ ?
Em cảm ơn.
Người gửi : Nguyễn Ngọc Thảo Nguyên

Mua thuốc lắc để sử dụng có bị truy tố trách nhiệm hình sự không ? Phạm tội gì? Hình phạt như nào?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể về tội tang trữ trái phép chất ma túy như sau:

‘’Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này’’

Như vậy bạn của bạn mua và giữ 4 viên thuốc lắc để sử dụng đã vi phạm Khoản g, Điều 249, Bộ luật hình sự. Do đó bạn của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy với mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.

Mức án bạn của bạn phải chịu còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mà thông tin bạn đưa ra rất ít, vì vậy chúng tôi không thể xác định được mức án mà bạn của bạn phải chịu.

Tuy nhiên bạn của bạn có thể áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như người phạm tội ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo,… để giảm mức án phải chịu

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư để được giải đáp. Trân trọng./.

2. Hỏi đáp pháp luật về tội tàng trữ thuốc lắc ?

Thưa luật sư! Tôi muốn hỏi luật sư rằng vợ tôi có lấy hộ đứa em 10 viên thuốc lắc và 1 chỉ ketamin. Em tôi đi đường bị cảnh sát cơ động kiểm tra và đưa về phường, em tôi khai lấy của vợ tôi và hôm sau vợ tôi bị gọi lên phường xác minh.

Vợ tôi đã nhận là đã lấy hộ 3 lần, vợ tôi chưa có tiền án tiền sự, khi gọi lên kiểm tra vợ tôi không có ma tuý trong người và thử xem có sử dụng không thì âm tính với ma tuý. Tôi xin hỏi luật sư: Vợ tôi sẽ bị xử phạt theo khung hình nào và có tình tiết giảm nhẹ hay không? Vợ tôi vẫn đang nuôi con nhỏ nhưng cháu được hơn 3 tuổi.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hỏi đáp pháp luật về tội tàng trữ thuốc lắc ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo khoản 3.1 mục II Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP quy định:

3.1. “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này.

Như vậy vợ bạn phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Khung hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 Bộ Luật Hình sự 1999 cụ thể như sau:

"Điều 194. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

m) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều này;

p) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ hai mươi lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm năm mươi kilôgam;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, trong trường hợp của vợ bạn thì vợ bạn là người đi mua hộ chịu trách nhiệm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều 194 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên cũng ăn cứ vào tổng số lượng chất ma túy đã mua hộ mà vợ bạn có thể bị xử phạt hình sự hoặc là chỉ xử phạt vi phạm hành chính.

Khoản 3.6 mục II Thông tư liên tịch 17 quy định như sau :

"3.6. Người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng dưới một gam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng dưới không phẩy một gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng dưới một kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng dưới năm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười mililít trở xuống.".

Theo đó, tùy vào số lượng chất ma túy mà vợ bạn có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự. Trong trường hợp tàng trữ theo mục 3.6 thì vợ bạn sẽ chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng). Nếu quá số lượng tại mục 3.6 vợ bạn sẽ bị xử lý hình sự như theo Điều 194 Bộ luật hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự:

"Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

Theo đó, vợ bạn bạn không thuộc các trường hợp được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như theo quy định của pháp luật. Nhưng xét thấy vợ bạn chưa có tiền án tiền sự như vậy tòa án có thế quyết định cho bạn một tình tiết giảm nhẹ khác với các tình tiết nêu trên, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

Trong trường hợp của vợ bạn, vợ bạn đã lấy hộ ma túy cho em trai 3 lần. Do đó vợ bạn có thể bị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do phạm tội nhiều lần như theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Luật hình sự. Phạm tội nhiều lần được hiểu như sau: Phạm tội nhiều lần là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều luật (hoặc tại cùng một khoản của điều luật) tương ứng trong phần riêng BLHS, đồng thời đối với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. tàng trữ thuốc lắc bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật hiện hành

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh tôi có bị công an tam giam vì tội tàng trữ 4 vien thuốc lắc. Anh tôi không bị nghiện mà chỉ đi mua hộ người quen. Vậy tôi muốn hỏi khung hình phạt với anh tôi là bao nhiêu năm tù ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.
- Nguyễn Mạnh A

tàng trữ thuốc lắc bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật hiện hành

Luật sư tư vấn:

Với những thông tin mà bạn chia sẻ thì Luật sư chưa thể nắm rõ được đây là loại ma túy gì và khối lượng bao nhiêu nên bài viết dưới đây sẽ chỉ là thông tin mang tính tham khảo. Vì để được tư vấn cụ thể về tội nào, khung hình phạt như thế nào cần rất chi tiết các thông tin khách quan của bạn trong sự việc này.
Rất có thể với số lượng 4 viên thuốc lắc sẽ là căn cứ đủ để cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều này thì có thể số thuốc lắc mà bạn nói sẽ thuộc một trong số các chất Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA. Vậy nên điều quan trọng nhất trong việc định khung hình phạt là khối lượng của 04 viên thuốc này là bao nhiêu:

+ Nếu khối lượng của 04 viên này là từ 0,1 gam đến 0,5 gam thì mức hình phạt trong khung này là từ 01 năm đến 05 năm tù.

+ Nếu khối lượng của 04 viên này là từ 0,1 gam đến 0,5 gam nhưng anh của bạn lại vi phạm có tổ chức; Phạm tội 02 lần trở lên; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Tái phạm nguy hiểm và Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc chất Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam hoặc Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản 2 Điều này thì mức hình phạt sẽ là từ 05 năm đến 10 năm tù.

Trên đây là hai khung hình phạt mà anh của bạn có thể bị truy cứu, phù hợp nhất với thông tin mà bạn đã nêu trong câu hỏi. Để có một mức hình phạt đúng với sự thật khách quan của vụ án thì trong quá trình tố tụng thì cơ quan tố tụng còn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51, tăng nặng theo Điều 52 theo quy định Bộ luật hình sự năm 2015. Vậy nên khung hình phạt như trong bài viết chỉ mang tính tương đối. Thực tế cơ quan tố tụng định tội và định khung hình phạt cũng như tuyên án một mức phạt cụ thể cần dựa trên rất nhiều yếu tố khách quan của vụ án và phải dựa trên 04 yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của khoa học hình sự.

>> Xem thêm: Nghị định 19/2018/NĐ-CP năm 2018

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê