1. Các yếu tố có hại trong lao động
Vi khí hậu
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí. Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với sinh lý của con người.
Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép làm suy nhược cơ thể, tê liệt sự vận động. Do đó, làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng máy móc thiết bị,… Nhiệt độ quá cao sẽ gây bệnh thần kinh, tim mạch, bệnh ngoài da, say nắng, say nóng, đục nhãn mắt nghề nghiệp. Nhiệt độ quá thấp sẽ gây ra các bệnh về hô hấp, bệnh thấp khớp, khô niêm mạc, cảm lạnh,…
Tiếng ồn
Tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu cho con người, phát sinh do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận của máy do va chạm.
Làm việc trong điều kiện có tiếng ồn dễ gây ra các bệnh nghề nghiệp như: điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác, hoặc làm giảm khả năng tập trung lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén. Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn ngủ. Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc hoặc bệnh thần kinh, dễ dẫn đến tai nạn lao động.
Bức xạ và phóng xạ
- Nguồn bức xạ:
Mặt trời phát ra bức xạ hồng ngoại, tử ngoại Hồ quang, hàn cắt kim loại, nắn đúc thép phát ra bức xạ tử ngoại. Người ta có thể bị say nắng, giảm thị lực do tia hồng ngoại, đau đầu, chóng mặt, bỏng do bức xạ tử ngoại và dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Phóng xạ:
Các tia phóng xạ gây ra tác hại đến cơ thể người lao động dưới dạng: gây nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính, rối loạn chức năng thần kinh trung ương, nơi phóng xạ chiếu vào bị bỏng hoặc rộp đỏ, cơ quan tạo máu bị tổn thương gây thiếu máu, vô sinh, ung thư, thậm chí tử vong.
Bụi
Bụi là tập hợp của nhiều hạt kích thước nhỏ bé tồn tại trong không khí. Nguy hiểm nhất là bụi có kích thước từ 0.5 - 5 micromet. Khi hít phải loại bụi này sẽ có 70 - 80% lượng bụi đi vào phổi và làm tổn thương phổi hoặc gây ra bệnh liên quan đến phổi.
Các hóa chất độc hại
Hóa chất ngày càng được dùng nhiều trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản. Như: Asen, Crum, Benzen, các khí thải, các dung dịch axit, kiềm, muối, các phế liệu, chất thải khó phân hủy,… Hóa chất độc có thể trong trạng thái rắn, lỏng, khí, bụi,…tùy theo điều kiện nhiệt độ và áp suất.
Hóa chất độc có thể gây ảnh hưởng tới người lao động dưới dạng nhiễm độc cấp tính, nhiễm độc mãn tính.
Khi tiếp xúc với hóa chất độc, người lao động có thể bị nhiễm độc qua đường tiêu hóa, đường hô hấp hoặc qua da. Trong đó, theo đường hô hấp là nguy hiểm nhất và chiếm tới 95% trường hợp nhiễm độc. Chất độc thâm nhập vào cơ thể và tham gia các quá trình sinh hóa có thể đôi thành chất không độc, nhưng cũng có thể biến thành chất độc hơn. Một số chất độc xâm nhập vào cơ thể và tích tụ lại. Cũng có thể được thải ra ngoài qua da, hơi thở, nước tiểu, mồ hôi, hoặc tích tụ khi uống sữa và thải ra ngoài... tùy theo tính chất của mỗi loại hóa chất.
Các yếu tố vi sinh vật có hại
Một số ngành nghề người lao động phải tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm mốc như các nghề: chăn nuôi, giết mổ, chế biến thực phẩm. Những người làm vệ sinh đô thị, người làm lâm nghiệp, nông nghiệp. Nhân viên phục vụ tại các bệnh viện, khu điều trị điều dưỡng phục hồi chức năng, khu nghĩa trang,….
2. Mức bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại
Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Thông tư 24/2022/TT-BLĐTBXH, bồi dưỡng bằng hiện vật được tính theo định suất hàng ngày và có giá trị bằng tiền theo các mức bồi dưỡng sau:
- Mức 1: 13.000 đồng (tăng 3.000 đồng so với hiện hành);
- Mức 2: 20.000 đồng (tăng 5.000 đồng so với hiện hành);
- Mức 3: 26.000 đồng (tăng 6.000 đồng so với hiện hành);
- Mức 4: 32.000 đồng (tăng 7.000 đồng so với hiện hành).
Theo đó mức bồi dưỡng bằng hiện vật của người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố độc hại được tính theo định suất hằng ngày và có giá trị bằng tiền theo 4 mức với giá trị tối đa là 32.000 đồng.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 4 Thông tư 24/2022/TT-BLĐTBXH quy định về mức bồi dưỡng cụ thể theo từng nghề, công việc của người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố độc hại như sau:
Đối với người lao động đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 3 Thông tư 24/2022/TT-BLĐTBXH, mức bồi dưỡng cụ thể theo từng nghề, công việc được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 24/2022/TT-BLĐTBXH và được áp dụng theo thời gian làm việc tương ứng như sau:
- Nếu làm việc từ 50% thời giờ làm việc bình thường trở lên của ngày làm việc thì được hưởng cả định suất bồi dưỡng;
- Nếu làm dưới 50% thời giờ làm việc bình thường của ngày làm việc thì được hưởng nửa định suất bồi dưỡng;
- Trong trường hợp người lao động làm thêm giờ, định suất bồi dưỡng bằng hiện vật được tăng lên tương ứng với số giờ làm thêm theo nguyên tắc trên.
Ngoài ra, công ty phải đảm bảo không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh nghề nặng nhọc, độc hại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Các khoản phụ cấp, bổ sung khác, trợ cấp, tiền thưởng do doanh nghiệp quy định thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp.
3. Một số vấn đề về công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
Việc xác định một công việc là công việc nặng nhọc, độc hại thì còn có cần cứ vào các yếu tố nguy hiểm không?
Việc xác định công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm không chỉ xác định trên tên gọi ngoài việc công việc có tên gọi trong danh mục của Bộ lao động thương binh và xã hội quy định thì còn xác định dựa vào các yêu tố về điều kiện lao động như môi trường làm việc, tính chất công việc.
Ví dụ như công việc Vận hành hệ thống thiết bị khoan dầu khí trên sa mạc nằm trong danh mục nghề công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (điều kiện lao động loại IV) và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (điều kiện lao động loại V, VI) có các đặc điểm về điều kiện lao động của công việc như sau: Làm việc ngoài trời, trên sa mạc, công việc rất nặng nhọc, nguy hiểm, chịu tác động của ồn, rung, hóa chất.
Như vậy mặc dù tên gọi nằm trong danh mục nhưng các đặc điểm của công việc không đáp ứng các điều kiện trên thì cũng không xác định đây là công việc nặng nhọc độc hại.
Việc xác định công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm có thể dựa vào tân suất làm công việc đó hay không?
Khi đã giao kết hợp đồng lao động thì người lao động và người sử dụng lao động đã thỏa thuận về công việc người lao động phải thực hiện chính vì vậy nên khi đã thỏa thuận về công việc thì công việc được xác định theo hợp đồng lao động mặc dù có làm thường xuyên hay không thường xuyên thì vẫn được xác định là công việc nặng nhọc độc hại nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật. Nếu không có nhu cầu sử dụng người lao động làm công việc nặng nhọc nữa thì có thể tiến hành sửa đổi bổ sung hợp đồng lao động với công việc khác.
Chế độ phụ cấp đối với người lao động làm trong môi trường công việc nặng nhọc, độc hại.
Người lao động làm công việc không được xác định là nặng nhọc, độc hại nhưng làm việc trong môi trường có yếu tố độc hại thì sẽ không được phụ cấp nặng nhọc độc hại mà sẽ chỉ được bồi dưỡng bằng hiện vật.
Bài viết tham khảo: Tư vấn mức bồi dưỡng bằng hiện vật cho người làm trong môi trường có yếu tốc độc hại, nguy hiểm ?
Liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc. Trân trọng !