1. Căn cứ pháp luật thu hồi đất:
- Nghị định 88/2024/NĐ-CP
+ Ngày ban hành: 17/7/2024
+ Cơ quan ban hành: Chính phủ
+ Nội dung chính: Nghị định 88/2024/NĐ-CP quy định chi tiết về các vấn đề liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, và tái định cư khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất. Đặc biệt, nghị định này đưa ra các quy định cụ thể về mức hỗ trợ tái định cư mà các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan cần tuân thủ kể từ ngày 01/8/2024. Nghị định này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân bị ảnh hưởng bởi các quyết định thu hồi đất, đồng thời tạo ra một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch cho quá trình bồi thường và tái định cư.
- Luật Đất đai năm 2024 số 31/2024/QH15
+ Ngày ban hành: 18/1/2024
+ Cơ quan ban hành: Quốc hội
+ Ngày có hiệu lực: 01/8/2024
+ Nội dung chính: Luật Đất đai năm 2024 số 31/2024/QH15 được Quốc hội thông qua nhằm điều chỉnh toàn diện các vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai tại Việt Nam. Luật này quy định các nguyên tắc cơ bản về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng đất, đồng thời đưa ra các quy định chi tiết về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Luật Đất đai năm 2024 tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các chính sách quản lý đất đai, nhằm đảm bảo sự công bằng, minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài nguyên đất đai.
Nghị định 88/2024/NĐ-CP và Luật Đất đai năm 2024 là hai văn bản pháp lý quan trọng quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, và tái định cư trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất. Nghị định 88/2024/NĐ-CP cụ thể hóa các mức hỗ trợ tái định cư từ ngày 01/8/2024, trong khi Luật Đất đai năm 2024, có hiệu lực từ cùng ngày, thiết lập các quy định cơ bản và chi tiết về quản lý đất đai, bao gồm các vấn đề liên quan đến thu hồi đất và quyền lợi của các bên bị ảnh hưởng. Sự kết hợp của hai văn bản này giúp xây dựng một khung pháp lý rõ ràng, công bằng và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý đất đai và bảo vệ quyền lợi của người dân.
2. Mức hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất từ 01/8/2024
* Điều 8 Nghị định 88/2024/NĐ-CP quy định về chính sách bồi thường đối với hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở và các công trình phục vụ đời sống, trong các trường hợp cụ thể về việc thu hồi đất. Dưới đây là các quy định chi tiết về bồi thường cho các đối tượng thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, khi không có giấy tờ về quyền sử dụng đất:
- Bồi thường đối với đất có nhà ở và công trình phục vụ đời sống trước ngày 18 tháng 12 năm 1980
+ Trường hợp diện tích thu hồi bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở: Nếu thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở và công trình phục vụ đời sống, và diện tích thu hồi của thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai, thì bồi thường được thực hiện theo hạn mức công nhận đất ở. Đối với phần diện tích xây dựng nhà ở và công trình vượt hạn mức công nhận, bồi thường theo diện tích thực tế đã xây dựng sau khi trừ tiền sử dụng đất vượt hạn mức tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, và tái định cư.
+ Trường hợp diện tích thu hồi nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở: Nếu diện tích thu hồi nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở, bồi thường sẽ được thực hiện cho toàn bộ diện tích đất thu hồi.
+ Trường hợp thu hồi đất phục vụ sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ: Bồi thường sẽ dựa trên diện tích thực tế của đất bị thu hồi, áp dụng theo loại đất có thu tiền sử dụng đất với thời hạn sử dụng ổn định lâu dài.
+ Đối với phần diện tích đất còn lại không được bồi thường theo điểm a và điểm c: Được bồi thường theo loại đất nông nghiệp.
- Bồi thường đối với đất có nhà ở và công trình phục vụ đời sống từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993
+ Trường hợp diện tích thu hồi bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở: Bồi thường sẽ theo hạn mức công nhận đất ở đối với diện tích thu hồi. Đối với diện tích xây dựng vượt hạn mức, bồi thường sẽ theo diện tích thực tế đã xây dựng, trừ tiền sử dụng đất phải nộp.
+ Trường hợp diện tích thu hồi nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở: Toàn bộ diện tích đất thu hồi sẽ được bồi thường theo đất ở.
+ Trường hợp thu hồi đất cho mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ: Bồi thường theo diện tích thực tế bị thu hồi, theo loại đất có thu tiền sử dụng đất với thời hạn ổn định lâu dài.
+ Đối với phần diện tích còn lại không được bồi thường theo điểm a và điểm c: Bồi thường theo loại đất nông nghiệp.
- Bồi thường đối với đất có nhà ở và công trình phục vụ đời sống từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014
+ Trường hợp diện tích thu hồi bằng hoặc lớn hơn hạn mức giao đất ở: Bồi thường theo hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai. Đối với diện tích xây dựng vượt hạn mức, bồi thường theo diện tích thực tế đã xây dựng.
+ Trường hợp diện tích thu hồi nhỏ hơn hạn mức giao đất ở: Bồi thường cho toàn bộ diện tích đất thu hồi theo đất ở.
+ Trường hợp thu hồi đất cho mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ: Bồi thường theo diện tích thực tế bị thu hồi, theo loại đất có thu tiền sử dụng đất ổn định lâu dài.
+ Đối với phần diện tích còn lại không được bồi thường theo điểm a và điểm c: Bồi thường theo loại đất nông nghiệp.
- Bồi thường đối với hộ gia đình, cá nhân được giao đất nông nghiệp nhưng đã sử dụng đất ở ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2014: Được bồi thường về đất ở theo quy định tại các điểm a, b, c, d ở các khoản 1, 2, và 3 của Điều này, nếu đủ điều kiện được bồi thường theo khoản 1 Điều 5 của Nghị định này.
- Quy định về vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn: Các vùng được coi là có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn bao gồm các đơn vị hành chính cấp huyện, xã, thôn, làng, ấp, bản, bon, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, và các điểm dân cư tương tự theo quy định hoặc quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc người được giao, phân cấp, ủy quyền
* Điều 9 quy định chi tiết về chính sách bồi thường đối với hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất làm nhà ở, trong trường hợp đất có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014. Quy định này dựa trên các điều khoản của Luật Đất đai và các nghị định liên quan. Dưới đây là các quy định cụ thể về việc bồi thường trong các trường hợp khác nhau:
- Trường hợp sử dụng đất ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993: Đối với thửa đất có nhà ở đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, dù có vi phạm pháp luật về đất đai, thì diện tích đất được bồi thường sẽ được xác định theo diện tích thực tế bị thu hồi. Tuy nhiên, diện tích bồi thường không được vượt quá hạn mức công nhận đất ở tại địa phương nơi đất tọa lạc.
- Trường hợp sử dụng đất ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014: Đối với thửa đất có nhà ở đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, diện tích đất được bồi thường cũng sẽ căn cứ vào diện tích thực tế bị thu hồi. Trong trường hợp này, diện tích bồi thường sẽ không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định tại địa phương nơi có đất.
- Trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở vượt hạn mức công nhận hoặc hạn mức giao đất: Nếu diện tích đất sử dụng cho mục đích xây dựng nhà ở vượt quá hạn mức công nhận đất ở hoặc hạn mức giao đất ở, thì bồi thường sẽ được thực hiện dựa trên diện tích thực tế bị thu hồi mà đã được sử dụng làm nhà ở. Trong các trường hợp này, bồi thường sẽ không áp dụng cho phần diện tích vượt hạn mức ngoài quy định pháp luật.
- Vi phạm pháp luật về đất đai kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2014: Đối với các trường hợp hộ gia đình hoặc cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai như lấn chiếm đất hoặc chiếm đất kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau, Nhà nước sẽ không thực hiện bồi thường về đất. Quy định này nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến sử dụng đất không hợp pháp.
* Điều 10 quy định chi tiết về chính sách bồi thường đối với hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền trước khi Luật Đất đai có hiệu lực. Quy định này áp dụng cho các trường hợp đất được giao, mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở và công trình xây dựng gắn liền với đất không đúng quy định pháp luật. Cụ thể, việc bồi thường được thực hiện theo các quy định sau:
- Đối với đất sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993: Hộ gia đình và cá nhân có quyền được bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Nghị định này. Theo đó, diện tích đất được bồi thường sẽ dựa trên diện tích thực tế bị thu hồi, nhưng không vượt quá hạn mức công nhận đất ở tại địa phương.
- Đối với đất sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004: Đối với trường hợp này, việc bồi thường sẽ được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Nghị định này. Diện tích đất được bồi thường sẽ căn cứ vào diện tích thực tế bị thu hồi, không vượt quá hạn mức giao đất ở quy định tại địa phương.
- Đối với đất sử dụng ổn định từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014: Trong trường hợp này, việc bồi thường sẽ được thực hiện theo các quy định sau:
+ Đối với các trường hợp sử dụng đất thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 140 của Luật Đất đai: Việc bồi thường về đất sẽ được thực hiện theo quy định tại điểm a và b khoản 3 Điều 8 của Nghị định này. Diện tích đất được bồi thường sẽ tương ứng với diện tích thực tế bị thu hồi, không vượt quá hạn mức công nhận hoặc giao đất ở.
+ Đối với phần diện tích đất thu hồi còn lại: Nếu còn lại phần diện tích đất không được bồi thường theo quy định tại điểm a, việc bồi thường sẽ được thực hiện theo hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thu hồi.
- Đối với đất được giao từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực: Đối với các trường hợp đất được giao trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước khi Luật Đất đai có hiệu lực, nếu có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất thì việc bồi thường sẽ được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Nghị định này. Điều này đảm bảo rằng các quyền lợi về bồi thường được bảo vệ một cách công bằng và hợp lý cho người sử dụng đất đã thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật.
* Điều 11 quy định các chính sách bồi thường liên quan đến đất ở khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất, cụ thể là các trường hợp được quy định tại Điều 98 của Luật Đất đai. Nội dung điều khoản này được thể hiện như sau:
- Đối tượng được bồi thường: Hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, cũng như các tổ chức kinh tế đang sở hữu và sử dụng đất ở hoặc nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam, sẽ được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Để đủ điều kiện nhận bồi thường, các đối tượng này phải đáp ứng các tiêu chí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 95 của Luật Đất đai, hoặc Điều 5 của Nghị định này. Việc bồi thường sẽ được thực hiện bằng một trong các hình thức sau:
+ Bồi thường bằng đất ở: Cung cấp một diện tích đất ở tương đương hoặc thích hợp để thay thế diện tích đất bị thu hồi.
+ Bồi thường bằng nhà ở: Cung cấp một hoặc nhiều căn nhà ở để thay thế cho nhà ở bị thu hồi.
+ Bồi thường bằng tiền: Đưa ra khoản tiền bồi thường tương ứng với giá trị của diện tích đất bị thu hồi.
+ Bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác: Cung cấp một diện tích đất với mục đích sử dụng khác phù hợp với nhu cầu của người bị thu hồi đất.
- Quy định bồi thường cụ thể:
+ Trường hợp thu hồi toàn bộ đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu: Nếu Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân, hoặc nếu diện tích đất ở còn lại của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (được quy định tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai), và hộ gia đình, cá nhân không còn sở hữu bất kỳ diện tích đất ở hoặc nhà ở nào khác trong cùng xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi, thì họ sẽ được bồi thường theo một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng đất ở: Cung cấp một diện tích đất ở khác tương đương hoặc phù hợp để thay thế diện tích đất bị thu hồi.
- Bồi thường bằng nhà ở tái định cư: Cung cấp một căn nhà tái định cư để thay thế nhà ở bị thu hồi.
+ Trường hợp thu hồi toàn bộ đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu nhưng có nhà ở hoặc đất ở khác: Nếu diện tích đất ở còn lại sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu quy định, nhưng hộ gia đình, cá nhân vẫn còn sở hữu đất ở hoặc nhà ở khác trong cùng xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi, họ sẽ được bồi thường bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng tiền: Cung cấp khoản tiền bồi thường tương ứng với giá trị của diện tích đất bị thu hồi.
- Bồi thường bằng đất ở: Cung cấp một diện tích đất ở khác phù hợp.
- Bồi thường bằng nhà ở: Cung cấp một căn nhà ở khác nếu địa phương có đủ quỹ nhà ở.
- Bồi thường bằng đất khác: Cung cấp một diện tích đất với mục đích sử dụng khác nếu địa phương có điều kiện về quỹ đất.
Ngoài ra, có thể tham khảo:
- Điều kiện để được hỗ trợ tái định cư và cách tính bồi thường tái định cư
- Nhà nước thu hồi đất để làm đường có được đền bù, hỗ trợ không?
Còn khúc mắc, liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162 để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.